Chữ Hán là văn tự chung của các nước Á Đông cho đến thế đầu thế kỷ 20. Ngoài Trung Quốc, Việt Nam cùng với Nhật Bản, Triều Tiên (Hàn Quốc), văn học chữ Hán phát triển rực rỡ, trở thành kỳ hoa dị thảo trong nền văn học Hán văn cổ điển. Nguồn gốc lâu đời của thơ chữ Hán Sau hơn 1000 năm Bắc thuộc, Việt Nam giành được quyền tự chủ vào cuối thời Đường. Hán Văn Tự Học Tác Giả : Nguyễn Văn Ba Xuất bản năm : 1958 Dày : 330 Trang , khổ sách 17x25 cm Hán văn tự học được biên soạn như một quyển giáo trình dạy chữ Hán, cung cấp cho người học một lượng kiến thức đầy đủ về lịch sử, văn tự, thư pháp và văn pháp chữ Hán qua 110 bài khoá với hơn 2000 đơn vị chữ. Mấy nét về văn học Việt Nam trước thế kỷ X và về bài thơ chữ Hán viết vào thế kỷ VII của người Việt Nam I. Hiện nay chúng ta chưa biết gì nhiều hơn về văn học viết Việt Nam trước thế kỷ thứ X (trước thời Lý Trần) ([1]) ngoài vài tác giả, tác phẩm mà cố GS. Nguyễn Đổng Chi, PGS. Mục lục. 1 Khái quát về văn học trung đại Việt Nam. 1.1 Tình hình xã hội; 1.2 Tình hình văn học. 1.2.1 Văn học chữ Hán; 1.2.2 Văn học chữ Nôm ; 1.2.3 Văn học chữ Quốc ngữ; 2 Tiến trình lịch sử văn học trung đại Việt Nam. 2.1 Các giai đoạn văn học Việt Nam thời trung đại; 2.2 Các cảm hứng chủ đạo Một số tác phẩm văn học chữ Hán nổi tiếng của văn học trung đại Việt có thể kể đến như: Nguyễn Trãi - Đại cáo bình Ngô - thể loại Cáo, Phạm Ngũ Lão - Thuật hoài - Thơ Thất ngôn tứ tuyệt Đường luật, Trương Hán Siêu - Bạch Đằng giang Phú - Phú,… Bình Ngô Đại Cáo - Nguyễn Trãi 3.2. Văn học chữ Nôm tự học Hán văn trên web @ hv-ebook @ Hán Việt Từ Điển Trích Dẫn 漢越辭典摘引 online Sunday, 10 April 2022. Đào hoa nguyên kí - Đào Uyên Minh. Chép truyện "Suối hoa đào" (1) Có 214 bộ chữ Hán xếp theo thứ tự từ 1 đến 17 nét. Với 28 thác bản văn khắc nói trên, chúng tôi đã khảo sát thấy có những mã chữ Nôm, và chữ Hán ghi tiếng Việt thời kỳ này. Dưới đây sẽ sắp xếp theo thứ tự a, b, c: III. Việt Nam thư quán Xin chú ý Nếu máy bạn không hiển thị được các chữ Nho, hoặc bị thành ô vuông, tức là bạn cần tải về máy và cài đặt một số font chữ Hán Nôm cơ bản như: ArialUni, MS Song, HannomA, HannomB (xem bên trang Tài liệu ). Vay Tiền Nhanh Ggads. Bạn đang quan tâm đến Các Tác Phẩm Văn Học Chữ Hán phải không? Nào hãy cùng đón xem bài viết này ngay sau đây nhé, vì nó vô cùng thú vị và hay đấy! Tác phẩm văn học việt nam viết bằng chữ hán Có thể bạn quan tâm Tóm tắt nội dung chính, lập dàn ý phân tích, bố cục – Chị em Thúy Kiều – Nguyễn Du – Văn 9 Giới thiệu về tác giả Nam Cao và tác phẩm Lão Hạc – Nguyễn Lê Tín Truyện ngắn Vợ chồng A Phủ Tô Hoài, SGK Ngữ văn 12, tập 2 – Chí Phèo – Nghệ thuật thoát ra từ những kiếp lầm than – Sống chết mặc bay – Phạm Duy Tốn Ngoài văn học dân gian truyền khẩu, còn có một dòng văn học viết, đầu tiên là chữ Hán, sau đó là chữ Nôm, sau đó là chữ quốc ngữ như ngày nay. dòng văn học này đã trải qua nhiều thời kỳ. các văn bản sớm nhất được tìm thấy có niên đại từ thế kỷ thứ 10, được chia thành hai thời kỳ từ thế kỷ X đến thế kỷ X từ đầu thế kỷ 20 đến nay. bạn đang xem tác phẩm văn học bằng chữ Hán từ thế kỷ 10 đến thế kỷ 12 Xem thêm Giới thiệu về tiểu thuyết Tắt đèn và đoạn trích Tức nước vỡ bờ – Trường THPT Thành Phố Sóc Trăng Vào thời kỳ này, văn học viết được viết bằng hai loại chữ viết chữ Hán và chữ viết. mặc dù sau một nghìn năm Bắc thuộc, người Việt không bị đồng hóa mà dần dần hình thành nên bản sắc dân tộc riêng biệt. văn học du mục xuất hiện từ rất sớm, nhưng từ thế kỷ 16 văn học du mục mới thịnh hành và đến thế kỷ 16 văn học du mục chiếm một vị trí rất quan trọng. sự phát triển của ý thức dân tộc đã tạo điều kiện cho văn học du mục phát triển. Xem Thêm BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI TÁC PHẨM ÂM NHẠC TRONG MÔI TRƯỜNG KỸ THUẬT SỐ TẠI VIỆT NAM – Luật sư Đà Nẵng – Luật sư FDVN văn học và chữ viết hình thành và phát triển trong nhiều thế kỷ, văn học chữ Hán đã giữ vị trí thống trị trừ một vài trường hợp, chẳng hạn như triều đình hồ và tỉnh lỵ, nơi quan trọng ngôn ngữ du mục, mặc dù họ sử dụng chữ Hán, các tác phẩm văn học này vẫn mang đậm bản sắc và hồn quê Việt Nam như Bài thơ nam quốc sơn hà lý thương kiều, hịch tướng sĩ trấn hưng đạo, thơ ca ngợi chiến công của nghĩa quân và quân dân ta. ông già, trần quang khai, sư phạm mạnh mẽ, cáo binh ngoại nguyễn trai, Sau đây là những bộ sử được viết với tinh thần dân tộc đậm nét Đại Việt sử ký toàn thư của bệnh viện liên khoa, hoàng lê nhất thống chí của ngoại gia văn phải, w. Vào thế kỷ 15, văn học chữ Hán vẫn còn thịnh hành. tuy nhiên, văn học du mục vẫn liên tục phát triển. Nguyễn Trãi là người bảo vệ chữ Quốc ngữ và vận dụng chữ viết vào sáng tạo văn học. Tuyển tập thơ văn thời kỳ này là một trong những tuyển tập thơ lục bát cổ nhất còn nguyên giá trị cho đến ngày nay. Xem thêm Ý nghĩa nhan đề Những ngôi sao xa xôi – Giải thích nhan đề Những ngôi sao xa xôi Từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 10, văn học du mục phát triển mạnh mẽ và thống trị văn học. các nhà thơ lớn đã khai thác triệt để ngôn ngữ của dân tộc, nhiều tác phẩm tiêu biểu đã ra đời thơ vịnh xuân hương, nguyễn du truyện kiều, đoạn thi tập và ngâm khúc chinh phục, ngâm thơ Nguyễn Cung oán ngâm khúc. w, từ đầu thế kỷ 20 đến nay. Cuối thế kỷ X, đầu thế kỷ 20, các tác phẩm văn học chữ Quốc ngữ dần xuất hiện. Văn học Việt Nam ngày nay không chỉ tiếp thu và chịu ảnh hưởng của văn học Trung Quốc mà còn tiếp thu văn học phương Tây, đặc biệt là văn học Pháp làm cho văn học Việt Nam ngày càng phong phú, đa dạng hơn về thể loại. Văn học Việt Nam đã dần dần thoát khỏi phong cách cổ điển bằng những tác phẩm kinh điển có sức nặng hơn, uyển chuyển hơn, chính xác hơn, gần gũi hơn với ngôn ngữ đời thường. năm 1925, những cuốn tiểu thuyết đầu tiên của Việt Nam được xuất bản “tam tam” của hoàng ngọc thất, “canon quả” của nguyễn ngữ lục. trào lưu thơ mới được coi là một cuộc “cách mạng” về thơ, những quy tắc gò bó, những lối diễn đạt thông thường, những công thức bị phá vỡ, cảm xúc được thể hiện tự nhiên hơn, cởi mở hơn, lãng mạn hơn. Nhiều nhà thơ tài năng đã xuất hiện trong phong trào thơ mới thơ trong lu, thế lu, vũ đình, xuân điều, huy cận, tân da, nguyệt. Xem Thêm Nguyên lý tảng băng trôi trong tác phẩm Ông già và biển cả – Trường THPT Thành Phố Sóc Trăng Về sự trỗi dậy của văn học lãng mạn, có một nhóm tự lực văn đoàn được thành lập vào năm 1932, bao gồm nhất linh, khai hung, hoàng đạo, thach lam, và một số tác giả trẻ, w. Dù dòng văn học này đã có nhiều tiến bộ trong sáng tác nhưng không tránh khỏi những hạn chế về mặt tư tưởng. Xem thêm Vẻ đẹp tiềm ẩn nhân vật chí phèo trong truyện ngắn cùng tên của nhà văn nam cao Bên cạnh trào lưu văn học lãng mạn, cần phải kể đến văn học hiện thực phê phán. các tác phẩm của trào lưu văn học này rất chân thực và thấm nhuần tinh thần khoan dung. phong trào này đã cho ra đời những tác phẩm thực sự xuất sắc cả về nội dung và hình thức như Bước chân cuối cùng của nguyễn công tử, Đèn đường tắt, Vỡ đập, Vũ trong phung phí, Bi bo. by nguyen hong, chi pheo by nam cao, w. Cùng với hai phong trào trước, còn có một phong trào văn học cách mạng không lưu hành hợp pháp mặc dù đôi khi nó lưu hành một cách hợp pháp. trào lưu văn học này bao gồm các bài thơ của các chiến sĩ cách mạng trong tù và các tác phẩm đăng trên báo nước ngoài. Các tác giả tiêu biểu của phong trào này là Hồ Chí Minh, Sóng Hồng, Tố Hữu, Xuân Thủy, Cách mạng tháng Tám thắng lợi, văn học hiện đại phát triển mạnh mẽ. những tác phẩm ra đời trong thời kỳ này như những cột mốc đánh dấu từng giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc. Tác phẩm Con trâu của Nguyễn Văn Phong, Vùng mỏ đất võ, Cuộc đụng độ của Nguyễn Đình Thi, Văn chính luận của Nguyễn Tuân, W. nó là kết quả của văn học trong những năm kháng chiến chống Pháp. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước kéo dài 21 năm, nhiều tác phẩm văn học nổi tiếng đã ra đời phản ánh cuộc chiến đấu vô cùng anh dũng của đồng bào và chiến sĩ cả nước, như Ông đồ. Trong gia đình có bảy người mẹ là người hầu của Phan Tứ, ở đất Quảng, mẹ là người nắm giữ binh khí của Nguyễn Thị. và các tác phẩm thơ Quê hương giang nam, Dáng đứng Việt Nam, Tiếng chim hót thu bon, Gió thổi cát trắng xuân quynh, w. Ngày nay, các nhà văn, nhà thơ đang cố gắng đưa văn học Việt Nam lên một giai đoạn mới, góp phần xây dựng một đất nước Việt Nam hòa bình và ổn định. Nguồn Danh mục Văn Học Vậy là đến đây bài viết về Các Tác Phẩm Văn Học Chữ Hán đã dừng lại rồi. Hy vọng bạn luôn theo dõi và đọc những bài viết hay của chúng tôi trên website Chúc các bạn luôn gặt hái nhiều thành công trong cuộc sống! Website Email Tel  TẮT BÁO CÁO KHOA HỌCÝ NGHĨA CỦA VIỆC ẢNH HƯỞNG CỦA CHỮ HÁN VÀO VIỆTNAM I. MỤC ĐÍCH CỦA BÁO CÁOKhi xã hội phát triển, nhu cầu giao lưu học hỏi, tìm hiểu lẫn nhau, cùngnhau phát triển càng được đẩy mạnh, nhất là khi nền kinh tế mỗi nước phát triểnở một trình độ nhất định nào đó thì xu hướng tìm hiểu những đặc trưng văn hoácàng được quan tâm, bởi lúc đó văn hoá chính là yếu tố để phân biệt các nướcvới nhau. Trung Quốc là một nước láng giềng của Việt Nam, có quan hệ lịch sửlâu đời và giao lưu ảnh hưởng với Việt Nam sâu sắc về về nhiều mặt, đặc biệt làvấn đề văn hoá. Bản thân tôi là một sinh viên chuyên nghành Trung Quốc học,việc nghiên cứu văn hoá Trung Quốc là điều rất cần thiết. Để tiếp cận và tìmhiểu sâu sắc nền văn hoá Trung Hoa, rào cản trước tiên có lẽ là vấn đề văn tự, cóđọc được chữ của họ thì mới hiểu được họ đã làm, đã nghĩ gì, văn hoá của họ đãtừng bước phát triển và ảnh hưởng ra bên ngoài như thế nào. Để giải quyết khókhăn này, các sinh viên chuyên ngành Trung Quốc học chúng tôi đã đượcnghiên cứu thứ chữ tượng hình này ngay từ trước khi đi sâu nghiên cứu các vấnđề về Trung Hoa. Càng học chúng tôi càng cảm thấy hứng thú, có lẽ bởi chúngtôi dần phát hiện ra cái ý nghĩa mà con Chữ Hán ẩn chứa, từ những chữ GiápCốt Văn, Kim Văn đầu tiên, cấu tạo của nó và cả sự diễn biến kỳ diệu về hìnhthể của những chữ Triện, Lệ, Khải, Thảo, Hành sau này. Hiểu được những ýtưởng người Trung Quốc xưa muốn gửi gắm qua những con chữ tượng hình -biểu ý này và nắm được những ảnh hưởng của nó đến các nước phương Đông,vấn đề đặt ra đối với con người ở các nước này là việc tìm hiểu ý nghĩa mà chữHán đã ảnh hưởng tới. Là một người sống ở một nước có sự ảnh hưởng của chữHán lại được học ở ngành Trung Quốc học khoa Đông Phương học trường Đạihọc Khoa học Xã hội và Nhân văn tôi cảm thấy đây là một việc làm rất cần thiếtbởi nó làm hoàn thiện hơn những tri thức của tôi đối với ngành học, thấy đượcmặt khác về ý nghĩa của chữ Hán đối với Việt Nam. Quan trọng hơn nữa là vấnđề văn hoá, sự ảnh hưởng của chữ Hán vào các nước phương Đông và lưu lại1Website Email Tel  ảnh hưởng hết sức sâu đậm ở Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc, Triều Tiênđã tạo thành một vòng quay văn hoá hết sức đặc trưng của khu vực Ý NGHĨA CỦA VIỆC ẢNH HƯỞNG CHỮ HÁN VÀO VIỆTNAMĐể hiểu được ý nghĩa của chữ Hán đối với Việt Nam, chúng ta hãy xemchữ Hán xuất hiện như thế Sự xuất hiện chữ HánCó thể nói khi loài người xuất hiện cũng là lúc ngôn ngữ xuất ngôn ngữ nói không thể truyền lâu dài, truyền xa, và chính xác được. Dovậy theo sự phát triển của xã hội con người, nhu cầu lưu lại những kinh nghiệmsản xuất, đấu tranh hoặc truyền đạt những ý tưởng, tình cảm, hoặc tâm tưnguyện vọng, từ nơi này đến nơi khác, từ thế hệ này qua thế hệ khác phátsinh. Chữ viết được sáng tạo làm thoả mãn những nhu cầu một trong những loại chữ xuất hiện sớm nhất, khoảng 3500 năm, làloại văn tự tượng hình- biểu ý. Ban đầu con người ở đây cũng dùng hình thức “truyền miệng” để giao lưu tình cảm, truyền đạt tin tức, trao đổi tri thức và kinhnghiệm. Nhiều truyền thuyết Trung Hoa như Tam hoàng, Ngũ Đế đều đượcngười đời sau căn cứ vào truyền thuyết mà chấn chỉnh lại. Trước khi dùng chữviết, người Trung Quốc dùng phương pháp “ bện tết dây thừng” hoặc “ khắc lêngỗ” để ghi lại sự vật, phát minh ra bát quái dùng ký hiệu để ghi sự vật chính làmột sự tiến sáng tạo ra chữ viết không phải là của một hay vài người mà là sựsáng tạo của một đoàn thể người, của nhiều dân tộc cùng chung sống. Văn hoáthời kỳ sơ khai của Trung Quốc là sự sáng tạo của tộc người Hoàng Đế, tộc Viênđế, tộc Đông Di và Chữ Hán cũng tương tự như vậy. Do vậy người ta gọi chữTrung Quốc là Chữ Hán cũng là hiểu dựa trên nguyên lý này, vì tộc Hán là tộcchiếm dân số đông nhất 91,08% với nền văn minh phổ thông hiện nay của người Trung Quốc chính là Chữ Hán. TrungQuốc là một quốc gia đa dân tộc, đa ngôn ngữ. Nhiều dân tộc vẫn sử dụng hệ2Website Email Tel  chữ viết riêng của họ, song Chữ Hán vẫn là thứ chứ được được dùng nhưmột ngôn ngữ chính, ngôn ngữ thông hành giữa các dân tộc với Hoàn cảnh lịch sử nào, điều kiện lịch sử nào đưa tới một đợt tiếpxúc lâu dài liên tục và sâu rộng của tiếng Hán đối với Việt NamViệt Nam vốn không có văn 179 trước công nguyên Triệu Đà đem quân xâm lược Âu 111 trước công nguyên nhà Hán đặt nền đô hộ ở Giao Chỉ, CửuChân - Một đợt tiếp xúc liên tục, sâu rộng, kéo dài trong nhiều thế kỷ. Năm 111trước công nguyên được coi là buổi đầu chữ Hán du nhập vào Việt Nam và trởthành thứ văn tự chính thức. Chỉ đến năm 905 khi họ Khúc giấy nghiệp và nhất là đến năm 938 khiNgô Quyền đại thắng quân Nam Hán đưa lại nền độc lập cho nước nhà thì đợttiếp xúc này mới thực sự chấm dứt nhân tố đưa đến một đợt tiếp xúc lâu dài, liên tục và sâu rộng+ Sự thành lập bộ máy thống trị của người Hán, một bộ máy càng ngàycàng muốn đi sâu xuống tận cơ sở.+ Sự có mặt, sự cộng cư với người Việt của một khối lượng đông đảo“Kiều nhân” người Hán.+ Sự truyền bá của nền văn hoá Hán và sự ra đời của một tầng lớp tri thứcquý tộc người Việt Nam tham gia góp phần tuyên truyền ngôn ngữ, văn hoáHán. Sau thời kỳ Bắc thuộc là thời kỳ độc lập và tự chủ, qua nhiều triều đạiphong kiến Việt Nam trừ một số giai đoạn ngắn nước ta bị phong kiến phươngbắc xâm chiếm và đô hộ. Tuy Việt Nam độc lập và tự chủ nhưng Việt Nam vàTrung Hoa vẫn có mối bang giao về chính trị, trao đổi về kinh tế, sự giao lưu vềvăn hoá, thời kỳ này chữ Hán và tiếng Hán vẫn giữ vai trò chính thống tronggiấy tờ hành chính của ngôn ngữ, trong giáo dục khoa cử và cả trong các sángtác văn thực dân Pháp đặt nền thống trị ở Việt Nam, tiếng Pháp bắt đầu giữđịa vị chính thống. Biết tiếng Hán thời này là những tầng lớp sĩ phu của chế độ3Website Email Tel  còn lại và những học trò của các nho sĩ đã thất thế, tuy nhiên không phải vìvậy mà việc tiếp xúc ngôn ngữ Hán vào Việt Nam hoàn toàn bị cắt đứt. Đặc biệtlà từ cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 các nhà yêu nứơc Việt Nam qua sách báo chữHán đã tìm thấy những tư tưởng tiến bộ của Lương Khải Siêu, Khang Hữu Vi,Tôn Trung Sơn và tiếp nhận chủ nghĩa Mác - Lênin .3. Ý nghĩa của việc ảnh hưởng chữ Hán vào Việt NamNếu trong thời phong kiến, Chữ Hán đóng vai trò là công cụ mở mangvăn hoá để người Việt Nam hiểu sâu đạo Nho, đạo Phật, đạo Lão, tiếp thu cácgiá trị của khu vực xây dựng các thiết chế Nhà nước, các thiết chế văn hoá caocấp, tạo nên giá trị văn hiến Đại Việt, thì khoảng trong hai mươi năm đầu củathế kỷ XX, Chữ Hán ở Việt Nam vẫn đóng vai trò ấy, đồng thời giới thiệu chongười Việt Nam những thành tựu, giá trị của văn minh thế giới, văn minh Âuchâu, Mỹ châu, Mỹ châu vốn được người Trung Quốc, người Nhật từng khác, Chữ Hán giai đoạn này còn là công cụ tuyên truyền yêu nướcvà cách mạng, ngôn ngữ của báo chí, văn chương. Các tác giả lớn của bộ phậnvăn học yêu nước và cách mạng giai đoạn này chủ yếu đều xuất thân từ cửnghiệp. Họ là linh hồn của những phong trào yêu nước sôi động đầu thế kỷ XXnhư phong trào Đông Du, Đông kinh nghĩa thục, phong trào chống sưu thuế, Họ dùng Chữ Hán làm thơ văn kêu gọi yêu nước với một nhiệt huyết chứa Hán đã trở thành phương tiện cho họ diễn đạt những khát vọng nhằm cứunước, cứu nòi viết chính cương, đường lối, cho phong trào, viết thư kêu gọiđồng bào, đồng chí, viết đối lion, điếu văn khi nghe tin đồng chí của mình bỏmình vì sự nghiệp lớn hay có khi ghi lại lời tuyệt mệnh của chính mình. Nộidung của các văn bản đã khơi dậy trong lòng mỗi người trách nhiệm với nonsông, giống nòi, trở thành vũ khí động viên, giác ngộ đồng bàoTrong giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ, dưới sự lãnh đạo của Đảngtiên phong, của giai cấp công nhân, một lần nữa người Việt Nam lại sung sướngđón nhận những tư tưởng tình cảm lớn của thế kỷ qua những dòng văn thơ Hánđiêu luyện, tràn đầy những sinh khí Email Tel  là ý nghĩa về văn hoá, chính trị, tri thức khoa học của chữ Hán đối vớiViệt Nam. Còn một vấn đề nữa đó là vấn đề ngôn ngữ. Bởi qua một giai đoạntiếp xúc ngôn ngữ Hán và Việt lâu dài và liên tục đã làm nảy sinh nhiều hiệntượng ngôn ngữ đáng chú ý. Đây chính là nhiệm vụ đối với tầng lớp thanh niêntri thức trẻ hiện nay. Có rất nhiều người còn mơ màng về vấn đề cách đọc Hán -Việt, vấn đề chữ Nôm. Về cách đọc Hán - Việt Là cách đọc chữ hán của người Việt, bắt nguồntừ hệ thống ngữ âm tiếng Hán thời Đường, chịu sự chi phối của ngữ âm hình thức cách đọc Hán Việt là do sang thế kỷ thứ X Việt Nam trởthành một quốc gia độc lập và tự chủ . Vì lý do chính trị đó tiếng Hán ở ViệtNam đã hoàn toàn cách ly khỏi tiếng Hán ở bên kia biên giới. Sau thế kỷ thứ 10tiếng Hán ở các triều đại Nguyên, Minh, Thanh vẫn tiếp tục diễn biến, không tácđộng một cách trực tiếp với vai trò quyết định như trước nữa nên tiếng Hán ởViệt Nam chịu sự chi phối của tiếng Việt. Cách đọc Hán Việt đã hình thành,phát triển và tồn tại đến ngày nay. Tầm quan trọng của cách đọc Hán Việt + Một lối đọc thuận lợi cho người Việt, có thể dùng đọc mọi văn bản Hán.+ Một căn cứ để nghiên cứu lịch sử tiếng Việt.+ Một căn cứ để nghiên cứu chữ Nôm.+ Rất quan trọng đối với ngành Đông Phương mặt từ vựng, có ảnh hưởng hai chiều trong trong vốn từ Hán có tiếpnhận một số từ tiếng Việt, trái lại trong tiếng Việt cũng tiếp nhận nhiều từ củatiếng dụ những từ trong tiếng Hán ba la mật mít; phù lưu trầu; Giangsông; vả cây vả đều là những từ gốc tiếng Việt nhiều từ mượn tiếng Hán gọi là từ gốc Hán Có từ mượntừ trước lúc có cách đọc Hán - Việt nay còn lưu lại dấu vết trong tiếng Việt, cótừ mượn đọc theo cách đọc Hán Việt mà người ta thường gọi là từ Hán Việtchiếm một số lượng rất dụ Chè có cách đọc Hán Việt tương đương là Trà5Website Email Tel  có cách cách đọc Hán Việt tương đương là LongĐuổi có cách cách đọc Hán Việt tương đương là TruyBuồng có cách cách đọc Hán Việt tương đương là PhòngChém có cách cách đọc Hán Việt tương đương là TrảmLà những từ gốc Hán mượn từ thời thượng ra một số ít vay mượn theo con đường khẩu ngữ theo cách phát âmđịa phương của Trung Quốc như mì chính, màn thầu, xà xíu, mằn thắn Tóm lại, từ Hán Việt là từ gốc Hán đọc theo cách đọc của Việt Nam bắtnguồn từ hệ thống ngữ âm cuối đời Đường. Sự tiếp xúc ngôn ngữ Hán và Việt còn có một hệ quả khác nữa là sự xuấthiện của chữ Nôm. Chữ Nôm dựa trên cơ sở chữ Hán và cách đọc Hán Việt làký hiệu văn tự tiếng Việt. Nhờ có chữ Nôm mà bảo tồn được nhiều áng văn thơbất hủ như thư Quốc Âm thời Hồng Đức của Nguyễn Trãi, Truyện Kiều củaNguyễn Du, bản dịch Chinh Phụ Ngâm của Đoàn Thị Điểm…Chữ Nôm là một sản phẩm biểu lộ tài trí của người Việt nam trong sựnghiệp Việt hoá văn tự Hán trên cả ba mặt Âm đọc phải ngữ nghĩa và phạm visử dụng. Nó đã để lại cho sự nghiệp này hàng loạt những văn bản chứa đựngnhững nội dung phong phú, đa dạng, xúc tích đạm đà sắc thái dân tộc và giàutính sáng tạo độc đáo, có giá trị nghệ thuật và học thuật cao. Địa bàn hoạt độngcủa nó chủ yếu ở giấy tờ, sách vở, tiếng Việt mới là thứ tiếng đóng vai trò chủchốt và chiếm địa vị ưu thế tuyệt đối trong hoạt động ngôn ngữ số đông của toàndân Việt nam, từ vua quan cho đến toàn dân thiên Nôm thuộc loại hìnhghi âm. Xét trong mối tương quan với Chữ Hán, về đại thể Chữ Hán gồm 2 loại+ Loại chữ sử dụng các Chữ Hán hoàn chỉnh có sẵn để biểu thị các từtrong tiếng Việt theo cách dùng cả âm đọc âm Hán Việt lẫn ý nghĩa của chữ, vídụ chữ Tâm để ghi từ tâm có nghĩa là tim hoặc chỉ dùng âm như chữmột có nghĩa là chìm đắm, mai một đi nay dùng làm chữ Nôm để chỉsố từ “một” số 1.+ Loại chữ sáng tạo riêng để ghi từ trong tiếng Việt bằng cách ghép mộtsố Chữ Hán hoặc bộ phận của Chữ Hán và dùng thêm các dấu phụ. Ví dụ chữ6Website Email Tel  hai chữ ba và lăng ghép lại để ghi chữ Blăng tức chữTrăng trong tiếng Việt cổ ghi âm. Chữ do hai chữ thảo cỏ vàchữ cổ ghép lại để ghi từ “cỏ” cỏ cây trong tiếng Việt vừa âm vừaýĐiều đáng quan tâm trước hết ở chữ Nôm là mặt kết cấu ngữ âm củavăn nghệ sĩ khó Email Tel  LUẬNTrung Quốc là đại biểu của nền văn hoá Phương Đông trong suốt mấyngàn năm lịch sử. Văn hoá Chữ Hán Trung Quốc là chiếc nôi của văn minhPhương Đông, nó đã lắng trong tính cách, khí chất và tinh thần cốt cách của cácdân tộc Phương Đông. Chữ viết là phương tiện nối liền Phương Đông với thếgiới. Để tìm hiểu đặc trưng văn hoá Phương Đông cần tìm hiểu kỹ văn tự củaPhương Đông mà trong đó đặc biệt là văn tự của Trung Quốc. Bởi lịch sử ChữHán đã trải qua hơn năm lịch sử, ban đầu là chữ viết riêng của người Hánnhưng dần dần nó đã được phổ biến và lan toả ra vùng Đông và Đông Nam á,lưu lại một ảnh hưởng hết sức sâu đậm ở Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản cũngnhư nhiều vùng dân tộc ít người khác. Nó không chỉ có ý nghĩa phản ánh lịchsử, văn hoá, xã hội con người Trung Hoa mà còn phản ánh cả lịch sử xã hội conngười ở những vùng mà nó ảnh hưởng tới,là thứ chữ đầu tiên được nâng lênthành nghệ người Việt Nam, đặc biệt là một sinh viên khoa Đông Phương -chuyên ngành Trung Quốc nhận thức được ý nghĩa lớn lao mà hệ thống văn tựHán đã ảnh hưởng vào Việt Nam. Thiết nghĩ nghiên cứu chữ Hán, chữ Nôm làmột điều vô cùng quan trọng. Nó không chỉ có ý nghĩa đối với văn hoá ViệtNam mà còn có ý nghĩa đối với văn hoá đặc trưng của phương Đông./. 9Website Email Tel  LỤC10 Tác giả Vũ Thế Khôi Trong giới Hán học Trung Quốc và Việt Nam khá phổ biến ý kiến khẳng định rằng ngay từ cuối đời Tần cuối thế kỷ thứ III TCN chữ Hán đã bắt đầu được truyền vào Bắc bộ Việt Nam. Căn cứ duy nhất của họ là đoạn ghi trong Sử ký Tư Mã Thiên “Năm 33 tức 214 TCN – Tần Thuỷ Hoàng đưa những người thường trốn tránh, những người ở rể và những người đi buôn đánh lấy đất Lục Lương, lập thành các quận Quế Lâm, Tượng Quận, Nam Hải; cho những người đi đày đến đấy canh giữ”. Cũng dựa vào đoạn ghi chép đó, PGS Trần Nghĩa Viện Nghiên cứu Hán Nôm cho rằng những người bị đi đày này “… nghiễm nhiên trở thành những sứ giả chở chữ Hán và tiếng Hán tới phương Nam”. Sử ký Tư Mã Thiên là bộ sử liệu vĩ đại đáng tin cậy, nhưng từ một đoạn ghi chép trên mà suy luận rằng chẳng những tiếng mà cả chữ Hán được truyền đến Bắc bộ Việt Nam cùng đạo quân viễn chinh nhà Tần thì e chỉ là võ đoán. Vì vấn đề lại có ý nghĩa nguyên tắc từ góc độ giao lưu văn hoá Trung-Việt, nên cuối năm 2003, tại “Hội thảo quốc tế về truyền bá chữ Hán và giao lưu văn hoá Trung-Việt”, họp ở Thâm Quyến 19-21/12/2003, chúng tôi đã dành nửa đầu của báo cáo để đặt lại vấn đề với 2 ý kiến tranh luận, đó là 1. Cùng với cuộc viễn chinh của quân Tần, bất quá mới chỉ có sự lan truyền tự nhiên không thể gọi là truyền bá! khẩu ngữ tức tiếng Hán, thường song hành với mọi cuộc xâm lấn và di dân, chứ chưa thể có chuyện truyền bá chữ Hán; 2. Chỉ sau khi Triệu Đà, Huyện lệnh Long Xuyên quận Nam Hải, lợi dụng thời cơ nhà Tần sụp đổ, năm 207 chiếm lĩnh 2 quận Quế Lâm và Tượng Quận, thiết lập vương triều cát cứ Nam Việt quốc 207-111 TCN, 18 năm sau thôn tính nốt nước Âu Lạc 208-179 TCN của An Dương Vương, chữ Hán mới thực sự được truyền bá, tức được dạy một cách có chủ định ở vùng đất Bắc bộ và bắc Trung bộ Việt Nam ngày nay . Chứng minh ý kiến thứ nhất, chúng tôi biện luận như sau Theo chính Hán thư thì Tượng Quận không phải là Bắc bộ Việt Nam mà là vùng đất phía tây của Quảng Tây và phía nam của Quý Châu, như vậy thì trong cuộc viễn chinh vào miền đất Lĩnh Nam của Bách Việt, quân Tần mới chỉ đánh chiếm được vùng đất của Mân Việt Phúc Kiến, Quảng Đông, Dương Việt và Tây Âu Việt Quảng Tây và một phần Quý Châu, nhưng chưa chiếm cứ được đất Lạc Việt tức nước Âu Lạc của An Dương Vương. Một sử liệu đáng tin cậy khác là bức thư của Hoài Nam Vương Lưu An dâng lên can gián Hán Vũ Đế 140-86 trước CN đem quân vào đất Việt, đã miêu tả quân Tần từng bị khốn đốn ở đất Việt Lạc Việt? – như sau “Đời Tần sai quan uý Đồ Thư đánh đất Việt, người Việt trốn vào rừng núi, đánh không được, đóng quân ở vùng đất trống không, lâu ngày quân lính mệt mỏi, rồi người Việt ra đánh, quân lính Tần đại bại” . Sách Hoài Nam tử, cũng do chính Lưu An biên soạn, tả cảnh bại trận của quân Tần còn thê thảm hơn “Trong 3 năm không cởi giáp dãn nỏ… Người Việt đều vào trong rừng, ở với cầm thú, không ai chịu để cho quân Tần bắt. Họ cùng nhau đặt người kiệt tuấn lên làm tướng để ban đêm ra đánh quân Tần, đại phá quân Tần và giết được Đồ Thư, thây phơi huyết chảy hàng mấy chục vạn người”. Năm 214 mới chiếm được vùng Lĩnh Nam, đến đất Việt 3 năm chiến đấu liên miên “không cởi giáp dãn nỏ”, bị thảm bại chủ tướng bị giết, sĩ tốt thì phơi thây; 8 năm sau, 206, nhà Tần đã diệt vong, vậy thời gian đâu mà truyền bá chữ Hán? Nêu ý kiến chữ Hán chỉ bắt đầu được truyền bá được dạy và học có chủ định từ vương triều của Triệu Đà, chúng tôi căn cứ 2 sự kiện có trong sử sách Trung Hoa và Việt Nam, đó là a sử gia Việt Nam dẫn sách Thuỷ kinh chú của Trung Hoa, khẳng định rằng dưới triều đại Nam Việt quốc các Lạc tướng của Hùng Vương vẫn cai trị dân như cũ, tức Triệu Đà chủ trương sử dụng các hào trưởng người Việt có uy tín và lực lượng, lại thông hiểu ngôn ngữ và phong tục tập quán địa phương, để quản lý dân Lạc Việt; vậy thì để thông đạt các chiếu chỉ, mệnh lệnh, tất nhiên nhà Triệu phải tổ chức dạy cho họ chí ít biết đọc và viết được chữ Hán, tức là đến thời điểm ấy mới nảy sinh nhu cầu khách quan về một văn tự làm công cụ cho hệ thống hành chính thống nhất bao gồm người Hoa ở triều đình trung ương và người Việt ở phủ, huyện, làng xã. b Triệu Đà, để tranh thủ hậu thuẫn của người Việt nhằm xưng đế, cát cứ một phương, độc lập với đế quốc Hán, đã chủ trương dung hợp văn hoá Hoa – Việt, tạo ra những dòng họ hỗn huyết Hoa-Việt và dung hợp tự nhiên hai văn hoá Hoa và Việt. Sự kiện thứ hai này là nhân tố thuận lợi thúc đẩy việc bắt đầu truyền bá chữ Hán vào đến tận làng xã, chúng tôi đã cố gắng chứng minh chi tiết hơn như sau Triệu Đà vốn người Hán ở đất Chân Định, nay thuộc tỉnh Hà Bắc-Trung Quốc, cho Trọng Thuỷ cầu hôn Mỵ Châu đương nhiên nhằm mục đích thôn tính Âu Lạc. Nhưng sau khi đã tiêu diệt triều đình An Dương Vương, theo Sử ký Tư Mã Thiên, Triệu Đà tiếp tục chủ trương đó dùng Lữ Gia mà chínhSử ký Tư Mã Thiên gọi là “Việt nhân” đúng hơn phải nói là người Hán đã Việt hoá do sống giữa cộng đồng người Việt, cũng như Lý Bôn Nam Đế – và ghi nhận Gia “làm Thừa tướng 3 đời vua… Con giai lấy con gái vua, con gái lấy con giai, anh em tôn thất của vua…; ở trong nước rất được tôn trọng, người Việt tin ông, nhiều người làm tai mắt cho ông, ông được lòng dân hơn vương”. Chẳng những thế, bản thân Đà đã chủ động thích ứng với phong tục, tập quán của người Việt trong thư dâng Hán Văn Đế 179-156 trước CN ông viết “Lão phu ở đất Việt đã 49 năm, hiện đương bồng cháu”. Thâm ý của câu đó, họ Triệu khi tiếp sứ thần nhà Hán là Lục Giả, đã giải thích khá cụ thể bằng hành động “xoã tóc, ngồi chò hõ tức ngổi xổm, chồm hỗm theo phong tục người Việt, chứ không búi tóc, ngồi quỳ gối theo nghi lễ Trung Hoa – mà tiếp” và cũng khá thẳng thừng đáp lại lời Giả trách Đà “phản thiên tính” tức quên phong tục mẹ đẻ là người Hán! “Tôi ở trong xứ mọi rợ lâu ngày, quên hết lễ nghĩa rồi” tức không theo lễ nghi của người Hán nữa!. Có thể nói rằng họ Triệu và họ Lữ Lã là những đại biểu sớm nhất của các dòng họ cổ đại hoà trộn hai huyết thống Việt và Hoa được sử sách ghi lại, tức cũng xác nhận vào thời điểm đó mới bắt đầu hình thành nhân tố thuận lợi thúc đẩy sự truyền bá chữ Hán và giao lưu văn hoá Trung-Việt. Việc Triệu Đà chủ trương dung hợp hai nền văn hoá Hoa và Việt, gần đây được chính một số học giả Trung Quốc khẳng định. Sau khi tham dự Hội thảo Thâm Quyến, trên đường về qua Quảng Châu, nhân ghé thăm khu mộ của cháu Triệu Đà là Văn Vương Triệu Muội, chúng tôi mua được sách Lĩnh Nam chi quang, miêu tả việc khai quật khu mộ đá này năm 1983. Các tác giả sách viết Triệu Đà … “thúc đẩy chính sách dân tộc “hoà tập Bách Việt”, xúc tiến quá trình dung hợp dân tộc Hán – Việt và phát triển kinh tế – văn hoá” . Khách quan mà nói, quan điểm về sự dung hợp hai nền văn hoá Việt và Hoa dưới triều đại Triệu Đà trong toàn cõi Nam Việt quốc đã từng được một số nhà sử học Sài Gòn nêu lên khá sớm, nhưng đúng như nhà sử học Đào Hùng, Phó tổng biên tập báo Xưa & Nay, nhận định trong Lời giới thiệu công trình cực kỳ lý thú của nghiên cứu sinh tiến sĩ năm thứ nhất Đại học Văn khoa Sài Gòn Tạ Chí Đại Trường, xuất bản năm 1989 tại Hoa Kỳ, đến đầu năm 2006 này mới được in lại ở Việt Nam, nhan đề Thần, người và đất Việt “Trải qua một thời gian dài giới nghiên cứu chúng ta thường bị những động cơ chính trị chi phối nên việc nghiên cứu không thể tránh khỏi những thiên kiến”. Có thể nói một trong những thiên kiến như vậy là quan điểm chính thống trong giới sử học miền Bắc coi nhà Triệu là kẻ xâm lược, mà đã là kẻ xâm lược thì phải xấu, không thể có đóng góp gì đáng bàn nữa! Trong công trình nói trên, với một phương pháp nghiên cứu khách quan, không bị lập trường chính trị o ép, nhà sử học Tạ Chí Đại Trường xuất phát từ luận điểm về sự liên tục văn hoá và căn cứ thực tế lịch sử về giao lưu văn hoá của cộng đồng người Việt với Hán, Chămpa và các tộc người khác, đã phát biểu những ý kiến xác đáng, nêu một nhận xét táo bạo, nhưng theo chúng tôi, không phải không có lý, rằng “Ranh giới Giao [tức Giao Chỉ] – Quảng [tức Quảng Đông, Quảng Tây] còn nhập nhoà trong trận chiến Lý-Tống 1075-1077 khi Lý đem quân qua châu Khâm, châu Liêm có người giúp đỡ, nội ứng…”, tức theo ông, trải qua hơn nghìn năm vẫn tồn tại những truyền thống bắt nguồn từ sự dung hợp văn hoá Hoa và Việt từ thời Triệu Đà khiến ít ra một bộ phận dân chúng vùng Lưỡng Quảng không hề mặc cảm đạo quân viễn chinh của Đại Việt là những kẻ dị chủng xâm lược. Bốn chục năm trước đây, khoảng năm 1962/63, chúng tôi từng được nghe một vị sư già ở chùa Thầy nói xương cốt dưới hang chùa là của binh lính Lữ Gia không chịu ra đầu hàng, bị quân Hán vây đến chết đói ở dưới đó. Ngay ở Hà Nội cho đến năm 1979 vẫn còn phố Lữ Gia nay là phố Lê Ngọc Hân. Tại một số địa phương trên đất Việt Nam ngày nay dân chúng vẫn thờ Triệu Đà và Lữ Gia. Chẳng hạn, ở làng Đồng Xâm xã Hồng Thái huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình vẫn còn di tích một đền lớn uy nghi, được xếp hạng như di tích thờ vị Tổ nghề chạm bạc truyền thống. Thực ra, Tổ nghề Nguyễn Kim Lâu chỉ được thờ trong một cái am nhỏ ở địa điểm khác. Đây cũng lại là một bằng chứng về cái sự “bị động cơ chính trị chi phối”, khiến người ta phải làm sai lệch sự thật về ngôi đền này, bất chấp thư tịch lịch sử và địa chí. Danh sĩ cuối đời Lê là Hoàng giáp Ngô Thì Sĩ 1726-1780 viết rành rành trong công trình nổi tiếng Việt sử tiêu án “… làng Đường Xâm quận Giao Chỉ nay là Đường Xâm huyện Chân Định có miếu thờ Triệu Đà…” Huyện Chân Định sang triều Nguyễn thuộc phủ Kiến Xương tỉnh Nam Định, đến năm 1894, phủ Kiến Xương cắt về tỉnh Thái Bình mới lập, sau bỏ phủ, đổi gọi là huyện Kiến Xương. Năm 1924 nhà địa dư học Ngô Vi Liễn còn ghi ở chương “Tỉnh Thái Bình” trong sách Địa dư các tỉnh Bắc kỳ “Đền Triệu Vũ Đế ở làng Thượng Gia, phủ Kiến Xương, hội về ngày mồng 1 tháng tư”. Cũng sách của Ngô Vi Liễn cho biết làng Thượng Gia thuộc tổng Đồng Xâm sách đời Nguyễn Gia Long còn gọi là tổng Đường Xâm. Tâm thức dân Việt không phải ngẫu nhiên vẫn tôn thờ Triệu Đà. Ngoài công “hoà tập Bách Việt”, phát triển kinh tế và văn hoá, biến cả miền Lĩnh Nam thành ánh hào quang =Lĩnh nam chi quang, họ Triệu đã Việt hoá từng cùng dân Việt chống ngoại xâm. Sử ký Tư Mã Thiên viết rằng thời Triệu Minh Vương chắt của Triệu Đà con là thái tử Anh Tề phải vào làm con tin tại triều đình nhà Hán, lấy gái Hán ở Hàm Đan họ Cù, đẻ ra con trai là Hưng, sau được nối ngôi, nên Cù thị trở thành thái hậu Nam Việt quốc; hồi còn trên đất Trung Quốc, đã là vợ Anh Tề, Cù thị vẫn dan díu với người huyện Bá Lăng là An Quốc Thiếu Quý, nay thấy Thiếu Quý sang làm sứ giả, lại cùng gian dâm, rồi khuyên vua quan Nam Việt xin “nội thuộc” nhà Hán… “bọn Lữ Gia bèn làm phản, ra lệnh trong nước “Vương tuổi còn trẻ, thái hậu là người Trung Quốc, lại dan díu với sứ giả, chỉ muốn nội thuộc…”. Lữ Gia bèn cùng em đem quân đánh giết vương, thái hậu cùng các sứ giả của nhà Hán…; lập Vệ Dương hầu Kiến Đức, người con trai đầu của Minh Vương, vợ Đại Việt sử ký toàn thư ghi “mẹ” – là người Việt, làm vua…, đem quân đánh bọn Thiên Thu tướng nhà Hán, diệt được họ cách Phiên Ngung nay là Quảng Châu 40 dặm. Gia sai người phong gói cờ tiết của sứ giả để ở cửa ải, khéo nói dối để tạ tội, rồi đem quân đóng giữ những nơi hiểm yếu” chúng tôi nhấn mạnh – . Rõ ràng vương triều họ Triệu cùng vị Thừa tướng “Việt nhân”, “được lòng dân hơn vương”, là những người đầu tiên , trước Hai Bà Trưng cả 144 năm, đã chống quân xâm lược nhà Hán. Cuộc kháng chiến của họ dẫu được dân Việt ủng hộ, vẫn thất bại do tương quan lực lượng quá chênh lệch ở thời buổi nhà Hán vừa mới diệt Tần lên làm chủ Trung Hoa, đang trở thành một đế chế hùng mạnh. Nhưng cũng như một người xưa, Tiến sĩ Vũ Tông Phan, đã viết về Hai Bà Trưng trên tấm bia lập năm 1840, hiện vẫn dựng giữa sân đền thờ Hai Bà ở Đồng Nhân-Hà Nội “Việc làm của kẻ trượng phu không thể lấy thành hay bại mà bàn luận” . Sử sách nước ta qua các thời đại khác nhau có quan điểm khác nhau về vương triều Nam Việt. Đại Việt sử lược, bộ sử thời Lý-Trần TK XII-XIII chép “Nhà Triệu” ngang hàng với các “Nhà” Ngô, Đinh, Lê Đại Hành, Lý. An Nam chí lược đầu TK XIV, do Lê Tắc viết trên đất Trung Quốc nên không dám dùng chữ “kỷ” mà Tư Mã Thiên chỉ dành riêng cho các triều đại hoàng đế Trung Hoa, gọi Triệu là “thế gia” “Triệu thị thế gia” ngang hàng các “thế gia” Đinh, Lê, Lý, tức vẫn coi là một triều đại thuộc sử Đại Việt. Nguyễn Trãi coi quốc thống Đại Việt trước nhà Lê gồm cả Triệu, Đinh, Lý, Trần. Trong Bình Ngô đại cáo năm 1427 ông tuyên bố Xét như nước Đại Việt ta, Thực là một nước văn hiến. Cõi bờ sông núi đã riêng, Phong tục Bắc Nam cũng khác. Trải Triệu, Đinh, Lý, Trần nối đời dựng nước. Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên đều chủ một phương. Theo tinh thần đó Đại Việt sử ký toàn thư chép nhà Triệu như một triều đại chính thống của Đại Việt. Đến cuối thế kỷ XVIII, Việt sử tiêu án và Đại Việt sử ký tiền biên của Ngô Thì Sĩ phê phán chép sử Việt như thế là sai và đưa nhà Triệu ra ngoài, gọi riêng là “ngoại thuộc”, để phân biệt với giai đoạn “Bắc thuộc” sau này, khi nước ta “nội thuộc” Trung Quốc. Quốc sử quán triều Nguyễn theo như thế, có lẽ còn vì lý do năm 1804 vua Gia Long xin đặt quốc hiệu là “Nam Việt”, nhưng hoàng đế nhà Thanh không chuẩn cho, hẳn e ngại sự tái diễn việc cầu hôn một công chúa Trung Hoa và xin lại đất Lưỡng Quảng mà Quang Trung đã đặt ra. Để rạch ròi, triều Thanh đề nghị quốc hiệu “Việt Nam”, nhưng vua Gia Long không chấp thuận, tự đặt quốc hiệu là Đại Nam. Đến đầu thế kỷ XX, khi nước ta đã thành thuộc địa của Pháp, quyền uy Trung Hoa không còn tác dụng nữa, sử gia Trần Trọng Kim trong Việt Nam sử lược viết 1919, in 1921 mới lại đưa “nhà Triệu” vào quốc thống Đại Việt. Nếu Quang Trung không mất sớm thì sẽ ra sao nhỉ? Nhưng lịch sử không chấp nhận chữ “nếu”. Lịch sử đã an bài từ lâu. Ngày nay Việt Nam và Trung Quốc là hai quốc gia láng giềng hữu nghị, với biên giới đã xác định. Bởi vậy trong báo cáo tại Hội thảo Thâm Quyến 2003, chúng tôi đã nói rõ chỉ xem xét vương triều Triệu Đà thuần tuý từ góc độ giao lưu văn hoá. Nay xin một lần nữa nhấn mạnh như vậy. Nguồn Tạp chí Xưa và Nay số 256 tháng 8/2006 & Talawas Chữ Hán, chữ Nôm, chữ Quốc ngữ và văn học viết tiếng Việt Trần Đình Sử Tiếng nói, chữ viết văn tự có mối quan hệ vô cùng mật thiết với văn học. Những thứ tiếng mà không có chữ viết đi kèm, không có tác phẩm văn học để ngưng kết thành những kiệt tác ngôn ngữ, sống trong tâm hồn người đời, thì sẽ có nguy cơ bị diệt vong. Theo tài liệu Bản đồ ngôn ngữ đang lâm nguy của tổ chức văn hóa khoa học giáo dục của Liên hiệp quốc UNESCO cho biết toàn thế giới có 7000 thứ tiếng, trong đó một nửa sẽ bị tiêu vong trong thế kỉ này. 80-90% số còn lại sẽ tiêu vong trong vòng 200 năm nữa. Tốc độ tiêu vong của ngôn ngữ còn nhanh hơn tốc độ diệt chủng của các loại thú quý hiếm trên trái đất. Cứ hai tuần trôi qua, trên thế giới có một ngôn ngữ diệt vong. Nhà ngữ học Mĩ David Harrison cho rằng ngôn ngữ là di sản giá trị hơn nhiều so với các di sản mắt thường ai cũng thấy như Kim Tự tháp, rừng Amazon…, bởi nó là di sản của nhân loại, trong đó kết tinh phương thức tư duy, phương thức tồn tại và kinh nghiệm sống của một tộc người. Tiếng nói chết chủ yếu do người nói ít dần, người nói thứ tiếng đó nói thứ tiếng khác nhiều hơn, do không có văn tự ghi lại, do không có tác phẩm văn học để đời. Văn học viết của bất cứ dân tộc nào đều hình thành trên cơ sở tiếng nói, chữ viết của tiếng đó, do đó việc sử dụng chữ viết có ảnh hưởng trực tiếp rất to lớn đến sự hình thành văn học viết dân tộc. Đối với nhiều nền văn học phương Tây, trong suốt thời kì trung đại, dưới sự thống trị của tiếng Latinh, văn học viết bằng tiếng dân tộc chưa xuất hiện. Phải đến thời Phục Hưng, A. Dante 1265 – 1321bắt đầu dùng tiêng Ý để sáng tác Thần Khúc, Người Anh với G. Chauser 1343 – 1400 dùng tiếng Anh sáng tác, M. Opitz 1597 – 1639, H. Grimmelhausen 1621 – 1676 dùng tiếng Đức dể sáng tác, từ đó mới bắt đầu văn học dân tộc các nước đó. Điều thú vị là cũng vào thế kỉ XV ở Việt Nam Nguyễn Trãi 1380 – 1442 đã mở đầu tập thơ bằng tiếng Việt, đánh dấu thời điểm ra đời của văn học Việt, phân biệt với văn học chữ Hán cũng vào một thời điểm với các nền văn học phát triển ở châu Âu. Tuy nhiên, từ tác phẩm đầu tiên đến sự hình thành đầy đủ các thể loại văn học dân tộc phải trải qua một chặng đường rất dài, trải qua nhiều thế kỉ, trong đó chữ viết đóng vai trò cực kì quan trọng. Mọi người đều biết, văn học Việt Nam hình thành đầu tiên bằng chữ Hán, một ngôn ngữ không phải của người Việt. Giai đoạn hai mớí xuất hiện văn Nôm với chữ Nôm, mãi đến cuối thế kỉ XIX mới hình thành văn quốc ngữ hiện đại nhờ có chữ quốc ngữ. Các giai đoạn phát triển văn học ấy đều dựa vào sự xác lập chữ viết. Chúng ta đã di thực toàn bộ ngữ văn Hán làm thành văn viết Việt Nam, từ ngôn ngữ, hệ thông thể loại văn bản, từ thể thức cấu tạo, phương thức tu từ cho đến hành văn, từ thể loại hành chính đến thể loại văn chương học thuật, thi, phú, làm thành nền văn học chữ Hán Việt Nam. Dĩ nhiên đó là quá trình hình thành dần dần qua các triều đại .Bài văn chữ Hán sớm nhất được coi là bài Bạch vân chiếu sơn hải của Khương Công Phụ, sau có người khẳng định là bài Nam quốc sơn hà, tương truyền của Lí Thường Kiệt, gần đây theo khảo chứng mới, có căn cứ khẳng định sớm nhất là bài Quốc tộ của nhà sư Đỗ Pháp Thuận 915 – 990, thế kỉ thứ X[1]. Còn văn học Nôm, hình thành trên cơ sở chữ Nôm, một thứ chữ, theo Nguyễn Tài Cẩn, hình thành vào cuối đời Trần, theo Nguyễn Quang Hồng, hình thành không thể muộn hơn thời nhà Lý thế kỉ XII . Thế nhưng văn học Nôm thật sự, được thể hiện qua Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi phải đến ba thế kỉ sau, thế kỉ XV mới xuất hiện. Ba thế kỉ sau, thế kỉ XVI, trên cơ sở tác phẩm Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ, xuất hiện bản dịch ra chữ Nôm tương truyền của Nguyễn Thế Nghi, có thể coi là bản văn xuôi chữ Nôm đầu tiên trong văn chương Việt Nam. Từ thế kỉ XVI, trải qua rất nhiều quanh co, khúc khuỷu trong năm thế kỉ, phải đến đầu thế kỉ XX, với sự sử dụng chính thức chữ Quốc ngữ, thì văn học Việt Nam hiện đại nói chung và văn xuôi tiếng Việt nói riêng mới thực sự hình thành. Ở đây vai trò chữ viết hết sức quan trọng. Tại sao thơ Nôm phú Nôm phảt triển mà văn xuôi chữ nôm không phát triển? Đã ai nghiên cứu vấn đề này chưa? Sự hình thành văn học viết không đơn giản chỉ là có chữ viết rồi thì văn học viết tự nhiên xuất hiện theo chữ viết ấy, hay nói cách khác không phải chữ viết ghi nguyên xi lời ăn tiếng nói hàng ngày là có ngay văn học viết. Văn học viết như một hình thái biểu đạt, phân biệt với lời ăn tiếng nói khẩu ngữ hàng ngày và văn học truyền miệng. Văn viết phải hình thành trên cơ sở hệ thống chữ viết, mà sự hình thành chữ viết lại phải trên cơ sở hệ thống ngữ âm hình thành quy củ. Thế nhưng, tiếng Việt thời kì thế kỉ X – XII, theo các nhà ngôn ngữ học thuộc vào giai đoạn sơ thuỷ sau khi tách khỏi tiếng Việt Mường chung không lâu để trở thành thứ tiếng độc lập. Trạng thái sơ thuỷ thể hiện ở chỗ chưa hình thành cơ chế đơn tiết triệt để và chưa có đủ sáu thanh.[2] Do đó Văn học viết phải hình thành sau chữ viết một thời gian, bởi vì nó phải được mài giũa bằng văn tự, tạo thành quy tắc, thể thức thì mới thành văn học viết được. Chữ viết không phải chỉ là phương tiện ghi âm tiếng nói, không chỉ là phương tiện cố định lời nói, khắc phục tình trạng lời nói gió bay, làm cho lời nói được bảo tồn, mà còn là một phương thức tồn tại khác của ngôn ngữ. Nó làm cho văn viết tách khỏi tiếng nói phát ra âm thanh, khẩu ngữ, một tiếng nói không bao giờ tách khỏi âm thanh to nhỏ, ngữ điệu nói, nét mặt, động tác tay chân, ánh mắt…của người nói và ngữ cảnh cụ thể, tách khỏi không thời gian cụ thể để trở thành ngôn ngữ thuần tuý và có khả năng giao tiếp với muôn đời. Ngay văn quốc ngữ buổi đầu của Nam Bộ rất là quý giá, song sang đầu thế kỉ XX nói chung người ta không viết như thế nữa. Với chữ viết ngôn ngữ được trừu tuợng hoá khỏi người nói và người nghe cụ thể, được tự tổ chức thành văn bản, cô đọng, chuẩn hoá, phong phú thêm với những tín hiệu và phương tiện chỉ có trong văn viết. Có văn tự để viết thành văn bản thì mới có phần mở đầu, chuyển mạch, phần kết thúc. Lời nói khẩu ngữ chưa có các thành phần ấy một cách rõ rệt. Tất nhiên văn viết không tách khỏi mối dây liên hệ với ngôn ngữ khẩu ngữ hàng đó là nguồn sáng tạo vô tận. Hán văn là một tử ngữ, giống như tiếng La Tinh, tiếng Hy Lạp cổ, tiếng Nga cổ. Cho nên người Việt tiếp nhận và bảo lưu nguyên vẹn hình thức biểu đạt của nó, và người dùng buộc phải học thuộc nhập tâm,rồi tự mình viết theo mẫu sẵn, sự sáng tạo rất hiếm. Chỉ những bậc đại khoa uyên thâm mới có năng lực Hán sang Việt Nam trở thành tiếng Hán Việt, khác hẳn với Văn ngôn ít nhất là về âm đọc. Điều thú vị là trong khi văn ngôn đổi thay theo sinh ngữ của người Tàu, tiếng Hán Việt Việt Nam vẫn bảo lưu các âm cổ. Thơ ca Trung quốc cổ đại gieo vần theo âm cổ, đến người Trung Quốc hiện đại đọc thơ cổ của họ thì xảy ra tình trạng sai vần. Nhưng thơ ca Hán Việt với âm Hán Việt cổ, vẫn gieo vần theo nguyên điệu, không hề sai, do bảo lưu âm cổ du nhập vào từ đời nhà Đường. Với thứ chữ đó người Việt không thể tạo ra bất cứ thể loại nào mới so với văn học chữ Hán của người Hán.. Chữ Nôm được sử dụng trong hầu hết mọi lĩnh vực của đời sống, nhưng không được phát triển, bởi không có trường dạy chữ Nôm, Mà muốn hiểu Nôm buộc phải thạo chữ Hán, bởi vì chữ Nôm cấu tạo chủ yếu bằng các thành phần Hán. Để có các thể loai văn Nôm, văn viết đòi hỏi có thể thức. Sở dĩ Văn Nôm hình thành trước hết ở thơ ca là bởi vì lời thơ có âm luật và cấu trúc song hành của ngôn ngữ gián cách, như cái khuôn để người làm thơ lắp chữ vào. Tất nhiên Nguyễn Trãi làm thơ lục ngôn có nhiều khác biệt so với thơ chuẩn của thơ chữ Hán, song sự đó rất hiếm , về sau người ta vẫn theo lệ cũ. Các thể loại truyện Nôm, ngâm khúc, hát nói là sáng tạo đột xuất của người Việt nhờ có chữ Nôm. Văn xuôi Nôm trái lại phát triển chậm chạp, bởi văn xuôi đòi hỏi hành văn liên tục, phi gián đoạn, đòi hỏi những thể thức khác với văn vần, thơ ca. Chỉ cần đọc bản dịch Nôm của Nguyễn Thế Nghi thì thấy cách hành văn xuôi chưa hình thành, Việt Hán lẫn lộn, do từ vựng chưa đầy đủ. Có ý kiến cho rằng trong lĩnh vực hành chính có lẽ do thiếu chuẩn mực thống nhất của chữ Nôm, bất tiện trong quản lí, kém ưu thế so với chữ Hán. Nhưng thiết nghĩ đó chỉ là một lí do. Chưa định hình thể thức mới là lí do chính. Bản văn của Nguyễn Thế Nghi chỉ là văn dịch, chuyển nghĩa từ Hán sang Việt, mức độ lệ thuộc vào bản Hán văn rất cao, đọc lổn nhổn, tối nghĩa là một minh chứng cho sự thiếu hụt về thể thức câu văn và tổ chức liên kết các câu văn và từ ngữ để thành văn bản. Thực tế này cũng có thể nhìn thấy qua một số văn bản văn bia bằng chữ Nôm, trong đó ảnh hưởng của văn vần vẫn rất lớn, và ảnh hưởng này kéo dài cho tới đầu thế kỉ XX. Đối với các tài liệu sử Việt, hoặc là viết bằng văn xuôi chữ Hán, hoặc là viết bằng thể văn vần để thành diễn ca, đó là vì các tác giả Việt Nam lại chuyển sang diễn ca như Thiên Nam ngữ lục, Việt sử diễn âm cho dễ thuộc và dễ đọc. Người Việt lúc ấy cũng chưa biết đọc văn xuôi. Đó là vì thể thức diễn ca đã sớm định hình. Văn xuôi chỉ có được hình thức độc lập khi nào tạo được thể thức độc lập, trong đó câu văn xuôi trần thuật, biểu cảm, nghi vấn, câu điều kiện, câu giả thiết, câu mệnh lệnh hình thành, có vị trí độc lập. Chữ quốc ngữ do các cha cố Bồ Đào Nha , Pháp sang truyền đạo từ thế kỉ XV, chữ quốc ngữ được sáng tạo vào khoảng thế kỉ XVII và lưu hành trong giáo hội và giáo dân. Theo Nguyễn Huệ Chi, các cha cố Việt, các tầng lớp thông ngôn đã bước đầu sử dụng chữ Nôm để viết thư, viết truyện các thánh, ví như sách Quan quang Nam Việt, gồm 2 tập được viết dần dần từ thế kỉ XVII, rồi được cha cố sửa chữa, phiên âm, đem in năm 1902. Trong đó ngôn ngữ thuần Việt, trong sáng theo lời nói hàng ngày, không dùng các hư từ Hán Việt, lại còn dùng khẩu ngữ. Rõ ràng loại văn quốc ngữ này đã làm mẫu và lan ra ngoài giới thiên chúa giáo. Nhà văn Trương Vĩnh Ký là người vừa công giáo vừa viết văn quốc ngữ là một minh chứng cho sự lan toả của văn xuôi công giáo sang văn xuôi tiếng Việt. Do tính ưu việt, và chính sách của Pháp muốn dạy chữ quốc ngữ, song họ vẫn không bỏ chữ Hán, chỉ bỏ khoa cử. Các nhà cách mạng Đông Kinh nghĩa thục vì mục đích cách mạng đã cổ xuý học chữ quốc ngữ. Rồi báo quốc ngữ đã xuất hiện sớm từ 1865, đã làm cho người đọc quen với quốc ngữ, văn quốc ngữ. Trong việc thay đổi này, nhất là sự hình thành nền văn xuôi mới, yếu tố văn Pháp có vai trò không nhỏ. Mọi người biết tiếng Pháp dĩ nhiên có quan niệm về câu cú, về ngữ pháp, tạo thành ý thức về ngôn ngữ. Họ biết phân biệt chữ ghi âm, biết tri thức ngôn ngữ. Chính ý thức này thúc đẩy văn xuôi quốc ngữ phát triển. Sự hình thành nền văn xuôi Nam Bộ là một thành tựu to lớn, nó kích thích dòng văn xuôi quốc ngữ đầu thế kỉ XX phát triển. Tiểu thuyết tiếng Việt và thơ ca tiếng Việt quốc ngữ, văn chính luận, báo chí quốc ngữ đều là thành tựu đột xuất. Song song với chữ quốc ngữ, giai đoạn cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX là giai đoạn xã hội Việt Nam biến động lớn. Không chỉ có Pháp với người Việt, mà Trung Quốc cũng đang biến động lớn. Phong trào duy tân xuất hiện cả ở Trung Quốc lẫn Việt Nam, sự tiếp nhận ồ ạt hàng loạt từ ngữ mới của Nhật Bản, những từ mà người Nhật dùng yếu tố Hán, hoặc từ Hán có sẵn để dịch các thuật ngữ, danh từ phương Tây. Cho nên vốn từ xã hội, chính trị, triết học, văn hoá, quân sự, y học, giáo dục, khoa học ồ ạt được tiếp nhận. Đây là thời kì tiếp nhận tiếng Hán Nhật nhiều nhất, đồng thời sử dụng lại từ Hán Việt đã biết. Trước khi chưa có chữ quốc ngữ, chữ Hán và chữ Nôm cũng không hoàn toàn tách biệt. Xem Chinh phụ ngâm và Truyện Kiều để xem tỉ lệ tiếng Việt và tiếng Hán Việt được sử dụng là bao nhiêu. Rồi đem so với văn xuôi , văn báo chí, văn chính luận thời đầu thế kỉ, xem tỉ lệ tiếng Việt và tiếng Hán Việt bao nhiêu thì có thể kết luận được các giai đoạn tiếp nhận từ Hán Việt truyền thống và từ Hán Việt gốc Nhật. Đồng thơi đây cũng là thời gian tiếng Việt tự cải tạo mình. Biết bao nhiêu khái niệm mới, từ mới phải được gọi tên, và do đó, người Việt sẽ dùng các yếu tố Hán Việt để tạo từ Việt mới, hoặc sử dụng từ Hán Việt theo nghĩa riêng của tiếng Việt, mà tiếng Hán không có. Ví dụ ta nói chiến tranh ác liệt, từ ác liệt chỉ sự dữ dội, sự tàn khốc, trong khi đó trong tiếng Hán từ ác liệt nghĩa là xấu xa, đê tiện. Từ tử tế, người Hán hiểu là tinh vi, chi li, thì người Việt hiểu là có thái độ tốt. Loại từ này rất nhiều mà chưa được nghiên cứu. Đáng buồn là giới ngôn ngữ học có một thời gian dài chỉ nói áng chừng từ Hán Việt chiếm 60 – 80% từ vựng Việt, mà không có chứng minh gì cả. Gần đây Viện ngôn ngữ học có đề tài nghiên cứu Từ ngữ Hán Việt, tiếp nhận và sáng tạo 2018, đã khẳng định dứt khoát tỉ lệ từ Hán Việt trong tiếng Việt chỉ khoảng 30 – 35%. Sự phát triển của tiếng Việt gắn bó với chữ viết. Sự chính xác của chữ quốc ngữ vượt xa lối ghi âm của chữ Nôm. Chữ viết làm cho số người sử dụng trở nên đông đúc, cơ hồ toàn thể xã hội, trong khi chữ Hán và chữ Nôm, ngay ơ thời Trung đại, chỉ lưu hành trong một bộ phận rất nhỏ dân cư, vị thế đó không thể làm cho chữ Nôm phát triển. Nếu có số thống kê người học chữ Hán trên số người dân đương thời thì vấn đề này được chứng minh rõ ràng. Người ta thường chỉ thấy chữ quốc ngữ ghi tiếng nói hàng ngày mà không thấy thứ chữ đó đã làm cho gần như toàn dân đều đọc được, viết được. Và các phong trào chính trị xã hội, văn hoá co tác động lớn đến phong phú vốn từ và cách diễn đạt. Không chỉ đầu thế kỉ XX, mà hầu như suốt thế kỉ chúng ta vẫn tiếp tục tiếp thu từ Hán Việt. Sau năm 1954 chúng ta tiếp thụ một loại từ Hán mới. Những liệt xa viên, liệt xa trưởng, những thủ trưởng, chuyên chính vô sản, đại táo, tiểu táo, uỷ viên trung ương, bộ chính trị, tập huấn, chỉnh huấn, tố khổ…đều tiếp thu trong phong trào cách mạng vô sản. Trong số đó có nhiều từ đã và sẽ lại chữ Nôm tuy rất tuyệt với, ghi được những áng văn bất hủ của dân tộc, song nó không làm cho tiếng Việt phát triển, vì người sử dụng nó chỉ giới hạn trong một tầng lớp có học. Mà người học thuở ấy còn rất ít.. Chỉ chữ quốc ngữ, một thứ chữ ghi âm đích thực, mới có tác dụng thúc đẩy toàn xã hội tham gia đóng góp, sử dụng tiếng Việt trong vận hội mới, thời đại mới. Chữ viết gắn bó với vận mệnh của văn học, điều này đã được lịch sử chứng minh. Ngoại trừ nhà chuyên môn, toàn dân mà trước hết là toàn bộ học sinh các cấp phổ thông không nhất thiết trở lại học thứ chữ chỉ có chức năng sử dụng hẹp. Đây là lúc cần nghiên cứu kí lưỡng vốn từ Hán Việt để dùng yếu tố Việt và Hán Việt mà làm phong phú cho tiếng Việt hiện đại, thay vì sử dụng tiếng Anh tràn lan như hiện nay trên đài truyền hình và trên báo chí. Ngoài ra tôi muốn nhấn mạnh điểm này. Những người biết chữ Hán và dịch sách Hán ra tiếng Việt nói chung đều chưa hay, vì họ bị lệ thuộc quá nhiều vào từ Hán mà họ dễ phiên âm, làm rối thêm tiếng Việt, văn dịch kém trong sáng. Trong khi đó khi dịch các văn bản tỉếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Nga do không có chỗ dựa dẫm, họ phải tự mình vắt óc sáng tạo, và quả nhiên họ dịch đọc hay hơn, sáng tạo hơn. Tất nhiên các bản dịch tiếng Anh tiếng Pháp cũng có nhiều thảm hoạ, song đó là do lí do cá nhân, chứ không do một thứ tiếng. Hà Nội, ngày 17 tháng 9 năm 2016. [1] Bùi Duy Tân. Khảo và luận một số tác giả tác phẩm văn học trung đại Việt Nam. , tập một, nxb GD, Hà Nội, 1999, tr. 7 – 12. [2] Nguyễn Quang Hồng, Khái luận văn tự học chữ Nôm, nxb. Giáo dục, 2008, tr. 131 và các trang khác. Trong cuốn sách này Nguyễn Quang Hồng đã phân tích trạng thái chữ Nôm trong bản Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh, chỉ ra tình trạng dùng hai kí tự chữ Hán để ghi một từ tiếng Việt. khá phổ biến. Với hình thái chữ Nôm ấy thiết nghĩ người ta chưa thể dùng để làm thơ luật năm chữ hay bảy chữ được. Chỉ khi đã có một chữ ghi một tiếng như tiếng Hán thì người ta mới làm thơ luật được. Đến Quốc âm thi tập tình trạng ấy đã thay đổi, tình trạng một chữ ghi bằng hai kí tự đã giảm thiểu căn bản, chỉ còn lại một số rất ít, như tác giả đã chỉ ra, như câu Bà ngựa gầy, thiếu kẻ chăn, “Bà ngựa” thực ra là hai kí tự ghi một từ “Ngựa”.

văn học chữ hán việt nam