Giá Tủ sấy que hàn Ống sấy que hàn xách tay YCH-5K . CÔNG TY TNHH TM&KỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP TÂN PHONG. 2B Bạch Đằng - Hạ Lý - Hồng Bàng - Hải Phòng. 0945 *** *** kowell.com.vn. Ống Sấy Que Hàn Xách Tay Ych-5K Cách Sử Dụng: Cách 1: Các Model Ych5K 5Kb. 10Kb. 750L 750Lb Sử Dụng Điện Áp
Phát triển logistics: Doanh nghiệp cần ứng dụng công nghệ 4.0 Với sự bùng nổ mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ lần thứ 4, hiện nay các trung tâm logistics theo kiểu truyền thống đã dần chuyển đổi sang trung tâm logistics thế hệ mới. Xuân Quảng (Vietnam+) 14/04/2022 15:37 GMT+7 Ngành logistics đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế.
Tính tới hết tháng 9 năm 2022, Vincom Retail vận hành 83 trung tâm thương mại, hiện diện tại 44 tỉnh, thành phố trên toàn quốc. Tổng số dự án của Vincom Retail đang vận hành cao hơn so với các tập đoàn quốc tế cùng ngành đã có lịch sử phát triển lâu đời tại khu vực
CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ GIAO NHẬN TIẾN PHÁT . Ms Amy 0968 398 719 - +84 274 633 9689 . info@tienphatlog.com.vn
Chuyên ngành Quản trị Thương mại thuộc Khoa Hệ thống thông tin kinh tế và Thương mại điện tử có mối quan hệ đối tác tin cậy và lâu năm với hơn 50 doanh nghiệp thương mại điện tử có uy tín hàng đầu Việt Nam trong tổ chức khóa đào tạo kỹ năng miễn phí cho sinh viên
triển khai đồng bộ mạng băng thông rộng chất lượng cao trên địa bàn toàn tỉnh, phát triển mạnh mẽ mạng di động 5g, nâng cấp mạng di động 4g; đầu tư mua sắm thay thế, bổ sung, nâng cấp trang thiết bị công nghệ thông tin phục vụ hoạt động của các cơ quan đảng và chính quyền các cấp để hướng đến năm 2025, chuyển đổi toàn bộ các hệ thống sang sử dụng …
Thương mại điện tử Việt Nam tiếp tục thu hút dòng tiền triệu đô từ các quỹ đầu tư lớn tại châu Á. Sau thương vụ đầu tư của JD vào Tiki đầu Sen Đỏ nhận đầu tư 51 triệu đô la Mỹ sau vòng gọi vốn thứ 2 Reviewed by my channel on tháng 9 04, 2018 Rating: 5
Ngày 15/9, các trường Đại học trên cả nước công bố điểm chuẩn năm 2022 theo phương thức xét điểm thi Tốt nghiệp THPT, bao gồm: Đại học Kinh tế Quốc dân, Học viện Ngân hàng, Đại học Thương mại, Đại học Thuỷ lợi, Đại học Văn hoá Hà Nội, Đại học Ngoại thương
App Vay Tiền. Công nghệ thông tin phát triển mang đến những thay đổi lớn lao cho đời sống và kinh tế thế giới. Các hình thức mua bán truyền thống dần bị thay thế bởi TMDT E-commerce. Vậy thương mại điện tử E-commerce là gì? Có những mô hình E-commerce nào? Xu hướng của E-commerce hiện nay ra sao? TMDT E-commerce đem đến những lợi ích gì và đâu là những khó khăn mà E-commerce phải đối mặt? Bài viết ngắn dưới đây hi vọng giúp cho bạn giải đáp một phần những câu hỏi đó. Thương mại điện tử là gì? E-commerce là gì E-comm, viết tắt là EC Thương mại điện tử là khái niệm đề cập đến việc giao dịch, mua bán hàng hóa, dịch vụ có sử dụng mạng internet. TMDT được biết tới lần đầu tiên vào những năm 1960. Sau nhiều năm phát triển, khi các thiết bị di động phổ biến, các phương tiện truyền thông xã hội ngày càng khẳng định được sức mạnh, sự nở rộ của các website trở thành bệ phóng thúc đẩy sự trỗi dậy nhanh chóng của TMDT E-commerce. Các hình thức thương mại điện tử Hiện nay, có rất nhiều hình thức thương mại điện tử, có thể kể ra các hình thức cơ bản sau B2B Doanh nghiệp tới doanh nghiệp là TMDT giữa các công ty, doanh nghiệp, tổ chức với nhau. Khoảng 80% thương mại điện tử hiện nay theo loại hình này. B2C Doanh nghiệp tới người tiêu dùng là việc một doanh nghiệp dựa trên mạng internet để trao đổi trực tiếp hàng hóa, dịch vụ do mình tạo ra hay phân phối đến tay người tiêu dùng. C2B Người tiêu dùng đến doanh nghiệp là việc người tiêu dùng bán sản phẩm hoặc dịch vụ của họ cho doanh nghiệp hay tổ chức. C2C Người tiêu dùng đến người tiêu dùng là khi người tiêu dùng bán hàng hóa, dịch vụ của họ cho người tiêu dùng khác. Ngoài ra còn có G2C, G2B . . .nhưng các hình cũng ít được sử dụng hơn so với bốn hình thức cơ bản trên. E-Commerce là gì Thương mại điện tử E-commerce đem lại lợi ích gì? Thị trường toàn cầu Dễ thấy, khi bạn mở một cửa hàng thực tế, bạn sẽ chỉ có thế cung cấp hàng hóa và dịch vụ của mình trong một khu vực địa lý nhỏ hẹp. Thương mại điện tử sẽ giúp bạn giải quyết vấn đề đó. E-commerce giúp bạn tiếp cận thị trường nhanh chóng, mở rộng thị trường một cách tối đa so với bán hàng trực tiếp, nhờ đó, các sản phẩm, dịch vụ dễ dàng được giới thiệu, mua bán thông qua các nhà bán lẻ và thị trường trực tuyến. Luôn luôn mở cửa Trong thương mại điện tử E-commerce, việc điều hành một doanh nghiệp trực tuyến trở nên dễ dàng hơn nhiều, nó luôn mở cửa 24h/7/365. Đối với doanh nghiệp, đó là cơ hội tuyệt vời để gia tăng cơ hội bán hàng vào mọi thời điểm. Tiết kiệm ngân sách So với các hình thức kinh doanh thương mại truyền thống, mọi chi phí khi kinh doanh thương mại điện tử đều được giảm thiểu chi phí thuê gian hàng, nhân viên bán hàng, quản lý đều tiết kiệm hơn nhiều. Đương nhiên, khi người bán tiết kiệm được chi phí hoạt động, họ có thể cung cấp nhiều hơn các chương trình ưu đãi và giảm giá tốt hơn cho khách hàng của họ. Lúc này, khách hàng lại là người tiếp theo được hưởng lợi. Đôi bên cùng có lợi, thật là tuyệt vời phải không nào? Dễ dàng quản lý hàng tồn kho Bằng cách sử dụng các công cụ điện tử để đẩy nhanh quá trình đặt hàng, giao hàng và thanh toán , các doanh nghiệp thương mại điện tử có thể tiết kiệm hàng tỷ chi phí hoạt động và giảm lượng hàng tồn kho. Tiếp thị khách hàng chính xác nhất Nắm quyền truy cập vào dữ liệu khách hàng và cơ hội theo dõi thói quen mua hàng của khách hàng, các doanh nghiệp thương mại điện tử có thể nhanh chóng xác định và tiếp thị sản phẩm, dịch vụ phù hợp nhất cho người tiêu dùng. Làm việc từ bất cứ đâu, mua sắp bất cứ chỗ nào Điều hành một doanh nghiệp thương mại điện tử cho phép bạn bạn không cần phải ngồi trong văn phòng, còn mua hàng thì không buộc bạn phải đến siêu thị. Thứ cả người bán và người mua cần là một thiết bị kết nối internet và chỉ thế là đủ. Thách thức của thương mại điện tử Yêu cầu truy cập Internet Khi tham gia vào TMDT, để có thể mua bán, bạn nhất thiết cần một thiết bị được kết nối với mạng internet. Hiện nay, phần lớn người dân đều có quyền truy cập internet nhưng ở nhiều khu vực vẫn còn rất hạn chế . Chưa đủ tin tưởng Các sản phẩm và dịch vụ không được nhìn, sờ, cầm nắm hoặc cảm nhận tận tay, càng không được trải nghiệm thử làm người mua đắn đo. Sự nghi ngờ ở cả người mua và người bán dẫn đến nhiều giao dịch không trọn vẹn, nhất là khi họ đã từng giao dịch với đối tác không uy tín trước đó. Phương thức thanh toán còn hạn chế Hiện tại hình thức thanh toán phổ biến nhất tại việt nam khi giao dịch mua hàng online là nhận hàng và thanh toán tiền. Các cổng thanh toán tại việt nam đang phát triển khá mạnh mẽ, tuy nhiên chưa đủ sự tin cậy để người dùng sử dụng làm phương thức thanh toán chính. Chính vì vậy cũng góp phần làm TMDT gặp khó khăn hơn. Ngoài ra, kinh doanh TMDT cũng còn đối mặt nhiều thách thức khác nữa kỹ thuật, đối thủ cạnh tranh, thanh toán . . . Mong rằng, với bài chia sẻ ngắn về trên sẽ giúp bạn khai mở phần nào lý thuyết về thương mại điện tử E-commerce. xem thêm => cách chụp màn hình máy tính => KOL là gì
Những công cụ thương mại điện tử đã trở nên phổ biến và không còn xa lạ với nhiều doanh nghiệp bán lẻ tại Việt Nam. Nghiên cứu này phân tích thực trạng ứng dụng các công cụ thương mại điện tử trong bán lẻ trực tuyến tại một số doanh nghiệp Việt Nam và đưa ra một số đề xuất nhằm tăng cường ứng dụng các công cụ thương mại điện tử và quản lý bán hàng trong bán lẻ trực tuyến. Giới thiệu Cùng với xu thế phát triển công nghệ trên thế giới, thương mại điện tử TMĐT ở Việt Nam đang tăng trưởng mạnh mẽ. Việt Nam là nước duy nhất ở Đông Nam Á có tăng trưởng TMĐT 2 con số với 35,4 triệu người dùng và tạo ra doanh thu hơn 2,7 tỷ USD trong năm 2019. Bán lẻ trực tuyến không chỉ đơn giản là việc đưa sản phẩm lên mạng, nó còn là sự tương tác giữa người bán và người mua, với những chiến lược bán hàng hiệu quả. Người bán bao gồm cả doanh nghiệp DN và cá nhân qua việc sử dụng nhiều kênh khác nhau để bán hàng nhằm tối đa hóa cơ hội tương tác với khách hàng Zachman, 2009. Có nhiều công cụ TMĐT và DN có thể lựa chọn bộ công cụ TMĐT phù hợp với đặc thù kinh doanh bán lẻ trực tuyến mình Brzozowska, 2015. Các công cụ bán lẻ trực tuyến điển hình gồm cửa hàng trực tuyến trên sàn giao dịch TMĐT B2C như eBay và Taobao; website TMĐT; Facebook và các mạng xã hội khác; email marketing; diễn đàn; blog; sàn rao vặt; youtube; SEO và google adwords. Tình hình ứng dụng thương mại điện tử vào bán lẻ trực tuyến Theo Báo cáo Chỉ số TMĐT Việt Nam 2020, ở Việt Nam, vai trò của TMĐT càng quan trọng; tỷ trọng doanh thu từ TMĐT trên tổng mức bán lẻ hàng hóa tăng mạnh Năm 2019 đạt 4,2%, tăng 0,6% so với năm 2018. Số lượng người tham gia mua sắm trực tuyến trên các nền tảng TMĐT đạt 39,9 triệu người, tăng 11,8% so với năm 2018, tăng gần gấp hai lần sau 3 năm; Giá trị mua sắm trực tuyến bình quân đầu người đạt 202 USD, tăng 8,6%. Những nền tảng số bán hàng trực tuyến phổ biến nhất là những sàn giao dịch TMĐT trong lĩnh vực bán lẻ như Trong năm 2019 dẫn đầu về số lượng truy cập wesite tại Việt Nam là Shopee Việt Nam đạt trung bình 38 triệu lượt/tháng. Tiếp đó, lần lượt là Thegioididong với 28 triệu lượt/tháng, Sendo với 27,2 triệu lượt/tháng Lazada với 27 triệu lượt/tháng, Tiki với 24,5 triệu lượt/ tháng Theo iPrice insights, cập nhật vào ngày 03/3/2020. Sendo tập trung chủ yếu vào thu hút người dùng mới. Từ quý I/2020 sang quý II/2020, lượng truy cập website của Sendo tăng đến 24%, đưa họ lên hạng 3 toàn quốc. Đồng thời, ứng dụng di động của Sendo cũng xếp thứ 2 toàn quốc về số lượt tải về trong quý II và quý III/2020. Đối với Tiki chọn cách hướng đến gia tăng trải nghiệm người dùng bằng việc ra mắt tính năng livestream TikiLIVE và phát triển hệ thống kho bãi, giao hàng nhanh. Theo báo cáo của iPrice là Tiki nhận được các phản hồi rất tốt, giúp họ xếp hạng 2 toàn quốc về mức độ yêu thích của người dùng mạng xã hội. Cuối cùng, Lazada Việt Nam dành phần lớn thứ năm cho các hoạt động mua sắm kết hợp giải trí như Lazada Super Party, gameshow Đoán Giá, và Đại Nhạc Hội Lazada. Năm 2019 đánh dấu sự nổi lên của mô hình kinh doanh qua các sàn TMĐT. Với sự cạnh tranh khốc liệt giữa các đơn vị cung cấp sàn, nhà bán hàng giờ đây có nhiều kênh lựa chọn với những chính sách hỗ trợ tốt nhất để kinh doanh đa kênh trên nhiều nền tảng. Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh là hai địa phương có tỷ lệ DN kinh doanh qua sàn TMĐT cao nhất với cùng mức 83%. Bên cạnh việc sử dụng email hỗ trợ hoạt động của DN, ngày nay các công cụ hỗ trợ kết nối giao tiếp khác cũng được quan tâm và ứng dụng khá đa dạng như Facebook Messenger, Zalo, Viber, WhatsApp, Skype... Đây được coi là những nền tảng tiên tiến hàng đầu giúp cho việc tương tác trao đổi được nhanh chóng hơn với chi phí thấp hoặc miễn phí. Mục đích chính của việc sử dụng email vẫn dùng để giao dịch với khách hàng và nhà cung cấp chiếm 73% và có giảm chút so với năm trước đó. Khảo sát của HBR cũng chỉ ra 73% trong số người tiêu dùng đánh giá cao trải nghiệm đa kênh của cửa hàng online. Vì vậy, chuỗi đa kênh trực tuyến đóng vai trò rất quan trọng với thị trường bán lẻ hiện đại. Trên thực tế, mô hình thương mại đa kênh đã xuất hiện trong vài năm trước đây, tuy nhiên mãi đến hiện tại mới được các chủ shop tiếp cận rộng rãi. Theo báo cáo thường niên của Sapo, 97% cửa hàng online trong năm 2019 áp dụng bán lẻ đa kênh. Trong đó, hơn 54% chủ shop sở hữu 5 kênh bán hàng. Từ đó cho thấy, thương mại đa kênh sẽ là xu hướng rõ rệt nhất trong tương lai. Để mở rộng bán lẻ trực tuyến, tiếp cận khách hàng qua các công cụ TMĐT, năm 2019 DN sử dụng mạng xã hội nhiều nhất để quảng cáo 44%, tiếp theo là các công cụ tìm kiếm 35% là hai hình thức đem lại hiệu quả cao nhất cho DN. Mạng xã hội năm 2019 vẫn được đánh giá là công cụ hiệu quả nhất trong quá trình hỗ trợ DN bán hàng trực tuyến qua ứng dụng di động chiến 20%, qua website của DN đạt 26%, cao nhất là mạng mạng xã hội chiếm 40% mức cao. Với những dự báo về tiềm năng và sự hấp dẫn của thị trường TMĐT Việt Nam, cơ hội đối với các DN nhỏ và vừa DNNVV tham gia bán lẻ trực tuyến là rất lớn, cụ thể Tiềm năng thị trường bán lẻ trực tuyến, các đô thị lớn, tỷ lệ người dân có sử dụng điện thoại lên đến 95%, trong đó 78% sử dụng smartphone, 30% dân số có xu hướng mua sắm trực tuyến. Điều kiện cho kênh bán lẻ trực tuyến phát triển ngày càng được quan tâm, Chính phủ tạo điều kiện thuận lợi để TMĐT phát triển. Các mô hình bán hàng đa kênh cho phép kết nối các đơn vị vận chuyển, DN có thể sử dụng trọn gói quy trình xử lý đơn hàng của mình trên hệ thống và có thể giảm một nửa nhân sự. Các DN bán lẻ xây dựng chiến lược cụ thể như Liên hiệp Hợp tác xã Thương mại TP. Hồ Chí Minh Saigon đánh giá việc nghiên cứu phát triển mô hình cửa hàng tiện lợi và TMĐT là hai mô hình bán lẻ mới; Trong đó, Saigon đã và đang đẩy mạnh triển khai mô hình TMĐT và phương thức bán lẻ đa kênh. Bên cạnh đó, trang TMĐT kênh bán hàng qua điện thoại... được ra mắt và chính thức phục vụ khách hàng đã trở thành kênh mua sắm ưu chuộng trên thị trường bán lẻ. Trong xu hướng kết hợp kinh doanh offline và online, nhiều DN trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh cũng chủ động liên kết, hợp tác và phát triển lĩnh vực TMĐT. Đơn cử như Công ty Cổ phần Việt Nam Kỹ nghệ súc sản Vissan đã chính thức mở gian hàng trên nền tảng TMĐT Sendo. Như vậy, sau Now, Sendo là đối tác tiếp theo Vissan bắt tay hợp tác trong chiến lược đa dạng hóa kênh bán hàng trực tuyến, mang đến nhiều tiện ích và ưu đãi hấp dẫn cho khách hàng. Bên cạnh thuận lợi, DNNVV tham gia hoạt động bán lẻ trực tuyến cũng sẽ đối mặt với không ít thách thức như cuộc đua giữa các DN trong việc đầu tư vào công nghệ và phát triển kênh bán hàng online ngày càng cạnh tranh khốc liệt; thị trường và chất lượng của các nhà cung cấp trên thị trường bán lẻ Việt Nam cũng sẽ tăng lên dưới sức ép của sự cạnh tranh gay gắt và sự hội nhập quốc tế. Bên cạnh đó, năng lực quản trị của DNNVV Việt Nam hiện vẫn luôn là thách thức cũng như nguồn nhân lực phục vụ cho bán lẻ trực tuyến vẫn còn thiếu và yếu các kỹ năng phục vụ giao dịch TMĐT như tạo sản phẩm, cập nhật thông tin sản phẩm, quảng bá sản phẩm, xử lý đơn hàng online… cho đến các kỹ năng sử dụng công cụ trên các sàn TMĐT trong nước và quốc tế để giới thiệu và bán sản phẩm. Giải pháp ứng dụng thương mại điện tử, phát triển bán lẻ trực tuyến Để tăng sức cạnh tranh, các DN cần phải áp dụng công nghệ số để kết nối, tương tác với khách hàng, qua đó quảng bá sản phẩm, thương hiệu và kết hợp với những hoạt động mang lại trải nghiệm độc đáo cho người tiêu dùng. Một số giải pháp để phát triển bán lẻ trực tuyến thông qua TMĐT như sau Thứ nhất, lựa chọn các mô hình bán lẻ trực tuyến phù hợp theo nguồn lực và khả năng của DN như Xây dựng website bán hàng một cách tối ưu hoá và hiệu quả ở thị trường cần hướng đến; mở rộng bán hàng trực tuyến trên các sàn giao dịch thương mại để phát triển cửa hàng trực tuyến như Lazada, Tiki, Shopee... hoặc trên nền tảng Wix, Weebty, Bigcommerce. Các DN có thể tích hợp wesite với các mạng xã hội, Blog, Forum, Youtube và các công cụ bán lẻ trực tuyến khác hoặc bán bàng trên nền di động để tăng số lượng khách hàng xem website, tăng doanh số bán hàng, các ứng dụng Zalo, Viber, Messenger... Thứ hai, đẩy mạnh kết hợp đan xen giữa TMĐT với các loại hình phân phối hiện hữu, tạo thành phương thức phân phối đa kênh theo đúng xu hướng phát triển chung trên thế giới. Ứng dụng bán hàng đa kênh từ các DN công nghệ để hỗ trợ việc quản lý đơn hàng và quản lý kho. Thứ ba, DN có thể tham gia các lớp học đào tạo về các quản trị như Kỹ năng điều hành, kỹ năng quản trị tài chính, kỹ năng định hướng, lập kế hoạch... để nâng cao kỹ năng quản trị của chủ DN. Bên cạnh đó, tăng cường đào tạo các kỹ năng về TMĐT cho đội ngũ tham gia bán lẻ trực tuyến nhằm hướng đến sự phát triển bền vững, đặc biệt cần chú trọng đổi mới sáng tạo, áp dụng triệt để công nghệ số để tăng trải nghiệm cho khách hàng. Thứ tư, xây dựng thị trường và nâng cao lòng tin người tiêu dùng trong TMĐT thông qua nhiều hình thức như Tuyên truyền, quảng cáo, tổ chức hội nghị, sự kiện..., từ đó tăng cường khả năng nhận biết và ứng phó của người tiêu dùng với những hành vi tiêu cực trong TMĐT; giúp người tiêu dùng và DN hiểu được những mặt tích cực mà công nghệ cũng như TMĐT mang lại. Tài liệu tham khảo 1. Cục Thương mại điện tử và Công nghệ thông tin, Bộ Công Thương-VECITA 2019, Báo cáo thương mại điện tử Việt nam 2019; 2. Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam 2019 2020, Báo cáo chỉ số thương mại điện tử 2019, 2020, Sách Trắng thương mại điện tử 2019; 3. Dương Ngọc Hồng 2020, Thương mại điện tử trong phát triển kinh tế tại Việt Nam. Tạp chí Tài chính; 4. Đặng Văn Mỹ 2008, Góp phần nghiên cứu chiến lược hiện diện trên web của các doanh nghiệp Việt Nam trong thời đại thương mại điện tử. Tạp chí Khoa học và công nghệ, Trường Đại học Đà Nẵng, số 6 29, 2008, 110-120; 4. Anderson, E. W., Fornell, C. & Mazvancheryl, S. K. 2004, Customer satisfaction and shareholder value. Journal of marketing, 68, 172-185; 5. Baker, M. & Wurgler, J. 2013, Behavioral corporate finance An updated survey. Economics of Finance, 357-424; 6. Yonggui Wanga và Dahui Lib 2013, Testing the moderating effects of toolkits and user communities in personalization The case of social networking service. Journal Decision Support Systems, 55,31-42. * Trà Thị Thảo, Trường Đại học Công nghệ TP. Hồ Chí Minh. **Bài đăng trên Tạp chí Tài chính kỳ 2 tháng 6/2021.
Cuộc Cách mạng công nghiệp đã, đang và sẽ tiếp tục tạo sự ảnh hưởng mạnh mẽ đến mỗi cá nhân, mỗi gia đình, mỗi doanh nghiệp và toàn xã hội. Một trong những ảnh hưởng dễ thấy nhất là sự phát triển chóng mặt của Internet, hạ tầng kết nối dữ liệu trực tuyến như 3G, 4G, 5G, Wifi. Đi kèm với đó là sự phát triển của thương mại điện tử ở Việt Nam nói riêng cũng như trên toàn thế giới. Thương mại điện tử E-Commerce Thương mại điện tử đang phát triển mạnh trong những năm gần đây, nhưng có rất nhiều người hay bị nhầm lẫn khái niệm thương mại điện tử và kinh doanh điện tử. Vậy, thương mại điện tử E-Commerce hay Electronic Commerce đề cập đến các giao dịch được thực hiện thông qua Internet, các phương tiện điện tử. Khi các cá nhân và công ty mua hoặc bán sản phẩm, dịch vụ trực tuyến, họ đang tham gia vào thương mại điện tử. Thuật ngữ thương mại điện tử cũng bao gồm các hoạt động khác bao gồm đấu giá trực tuyến, ngân hàng trực tuyến, cổng thanh toán và bán vé trực tuyến. Thương mại điện tử liệu có đang bị nhầm lẫn với kinh doanh điện tử? Hiện nay, có rất nhiều người đang cho rằng hai thuật ngữ thương mại điện tử và kinh doanh điện tử chỉ chung về một hoạt động giao dịch thông qua nền tảng Internet. Về bản chất mà nói, đây là hai thuật ngữ khác nhau. Kinh doanh điện tử E-Business là thiết lập hệ thống hay ứng dụng thông tin để phục vụ và tăng hiệu quả kinh doanh, chủ yếu dựa trên công nghệ web. Trong một doanh nghiệp, kinh doanh điện tử có thể gồm Như vậy, hiểu theo nghĩa rộng, kinh doanh điện tử đề cập đến sự phối hợp giữa doanh nghiệp, đối tác, khách hàng và tổ chức hoạt động trong nội bộ doanh nghiệp. Tùy theo nhu cầu và khả năng, doanh nghiệp có thể ứng dụng các module phù hợp với từng giai đoạn. Như đã nói ở trên, thương mại điện tử đề cập đến các giao dịch được thực hiện thông qua nền tảng các phương tiện điện tử và Internet. Rộng hơn, thương mại điện tử là quy trình kinh doanh sử dụng các phương tiện điện tử và công nghệ xử lí thông tin số hóa, liên quan đến các tổ chức hay cá nhân. Thương mại điện tử đang phát triển liên tục mà bất cứ CEO, nhà quản trị kinh doanh nào cũng không thể bỏ qua hoặc đứng ngoài cuộc. Thế giới đang chịu ảnh hưởng của thương mại điện tử ra sao ? Khu vực châu Á – Thái Bình Dương và Bắc Mỹ dẫn đầu trong tổng số các khu vực về cả doanh số bán lẻ và thương mại điện tử bán lẻ. Châu Á – Thái Bình Dương sẽ chiếm 42,3% doanh thu bán lẻ trên toàn thế giới, Bắc Mỹ e chiếm 22,9% và Tây Âu chiếm 16,2%. Với thương mại điện tử, sự thống trị của Trung Quốc đồng nghĩa với viêc 62,6% tổng doanh số bán hàng số sẽ diễn ra ở châu Á – Thái Bình Dương. Con số này ở Bắc Mỹ và Tây Âu thấp hơn, lần lượt là 19,1% và 12,7%. Cụ thể hơn, doanh số bán lẻ thương mại điện tử của các khu vực lần lượt Doanh số bán lẻ thương mại điện tử trên toàn cầu theo khu vực 2020 tỷ USD Doanh thu thị trường B2C trong thương mại điện tử tỷ USD Các chỉ số thương mại điện tử của các khu vực và toàn cầu có sự khác biệt rõ ràng do những chênh lệch về mức sống, về thu nhập trung bình trên đầu người. Một yếu tố khác không thể bỏ qua đó chính là địa vị xã hội, khoảng cách chênh lệch giàu nghèo, đặc biệt là ở Ấn Độ và châu Phi. Tất cả những điều đó làm cho nhu cầu tham gia mua sắm trực tuyến, thương mại điện tử ở mỗi khu vực có sự khác nhau, cụ thể Ước tính số người tham gia thương mại điện tử tại Trung Quốc, Mỹ và Ấn Độ Ước tính giá trị mua sắm trực tuyến một người ở Trung Quốc, Mỹ và Ấn Độ USD Khi thương mại điện tử phát triển và đang trở thành xu hướng thịnh hành trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lan tỏa mạnh mẽ trên toàn cầu, Việt Nam đã và đang tiếp cận với thương mại điện tử từ góc độ của Nhà nước cũng như góc độ của doanh nghiệp như thế nào? Vấn đề này sẽ được nhắc tới trong bài viết tiếp theo, mời mọi người đón đọc ở kỳ sau với tên Thương mại điện tử Việt Nam. Gia Khánh. Kỳ 2 THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VIỆT NAM – THÁNH GIÓNG THỜI KỲ MỚI Kỳ 3 THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ NGÀNH Ô TÔ VIỆT NAM - DẤU ẤN TRONG THỜI KỲ MỚI
Industry will create a breakthrough for a developing country like Vietnam, shortening the development gap compared to other countries in the world. This article assesses i potentials; ii barriers; iii the role of the State in the industrial revolution Research results show that Vietnam has significant potential in the industrial revolution i The determination of the Party and State; ii Having the advantage of the following mover; iii The population is relatively large and in the golden population structure period; iv Abundant, low-cost, dynamic and creative workforce; v Relatively good telecommunications infrastructure. However, there are also many barriers for industrial revolution i Limited awareness of industrial revolution ii Large number of small and medium enterprises, lack of capital and low technology level; iii Limited quality of human resources; iv The State has not fully fulfilled its role in realizing its potential and overcoming the negative impacts of barriers to implementing the industrial revolution. Keywords Industry; industrial revolution The role of the State in the industrial revolution JEL code G38, M15, L96, O14, O15. Cách mạng công nghiệp sẽ tạo ra bước đột phá cho một nước đang phát triển như Việt Nam, rút ngắn khoảng cách phát triển so với các nước trên thế giới. Bài viết này đánh giáitiềm năng;ii rào cản;iii vai trò của Nhà nước trong cách mạng công nghiệp Kết quả nghiên cứu cho thấy Việt Nam có tiềm năng đáng kể trong cách mạng công nghiệp i Quyết tâm của Đảng và Nhà nước; ii Có lợi thế của nước đi sau; iii Dân số tương đối lớn và trong thời kỳ cơ cấu dân số vàng; iv Lực lượng lao động dồi dào, chi phí thấp, năng động và sáng tạo; v Hạ tầng viễn thông tương đối tốt . Tuy nhiên cũng có nhiều rào cản cho cách mạng công nghiệp i Hạn chế nhận thức về cách mạng công nghiệp ii Số đông doanh nghiệp vừa và nhỏ, thiếu vốn và trình độ công nghệ thấp; iii Chất lượng nguồn nhân lực hạn chế; iv Nhà nước chưa thực hiện đầy đủ vai trò của mình trong phát huy tiềm năng và khắc phục các tác động tiêu cực của những rào cản thực hiện cách mạng công nghiệp Từ khóa Công nghiệp; cách mạng công nghiệp vai trò của Nhà nước trong cách mạng công nghiệp JEL code G38, M15, L96, O14, O15. Discover the world's research25+ million members160+ million publication billion citationsJoin for free Số 260 tháng 02/2019 2Ngày nhận 24/12/2018Ngày nhận bản sửa 20/01/2019Ngày duyệt đăng 05/02/2019CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM TIỀM NĂNG, RÀO CẢN VÀ VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚCHồ Quế HậuTrường Đại học kinh tế TP Hồ Chí Minh Email hauqueho57 Tóm tắt Cách mạng công nghiệp sẽ tạo ra bước đột phá cho một nước đang phát triển như Việt Nam, rút ngắn khoảng cách phát triển so với các nước trên thế giới. Bài viết này đánh giái tiềm năng;ii rào cản;iii vai trò của Nhà nước trong cách mạng công nghiệp Kết quả nghiên cứu cho thấy Việt Nam có tiềm năng đáng kể trong cách mạng công nghiệp i Quyết tâm của Đảng và Nhà nước; ii Có lợi thế của nước đi sau; iii Dân số tương đối lớn và trong thời kỳ cơ cấu dân số vàng; iv Lực lượng lao động dồi dào, chi phí thấp, năng động và sáng tạo; v Hạ tầng viễn thông tương đối tốt . Tuy nhiên cũng có nhiều rào cản cho cách mạng công nghiệp i Hạn chế nhận thức về cách mạng công nghiệp ii Số đông doanh nghiệp vừa và nhỏ, thiếu vốn và trình độ công nghệ thấp; iii Chất lượng nguồn nhân lực hạn chế; iv Nhà nước chưa thực hiện đầy đủ vai trò của mình trong phát huy tiềm năng và khắc phục các tác động tiêu cực của những rào cản thực hiện cách mạng công nghiệp khóa Công nghiệp; cách mạng công nghiệp vai trò của Nhà nước trong cách mạng công nghiệp JEL G38, M15, L96, O14, Revolution in Vietnam Potential, Barriers and the Role of StateAbstractThe Industrial Revolution IR will create a breakthrough in developing country like Vi-etnam, shortening the development gap compared to other countries in the world. This article aims to assess i the potential, ii barriers, iii the role of the state in the IR The results show that Vietnam has signicant potential in the IR i The determination of the Party and the State; ii The advantage of latecomer country; iii The relatively large population and the golden demographic structure; iv The plentiful, cheap, dynamic and creative labor force; v The relatively good telecommunications infrastructure. However, there are many barriers to the IR i The limited awareness on the IR ii The large number of small and medium enterpris-es, lack of capital and low level of technology; iii The limited quality of human resources; iv The State has not yet fully implemented its role in promoting the potential and overcoming the negative impact of barriers on implementing the IR Keywords Industry; industrial revolution the role of the state in the IR code G38, M15, L96, O14, O15. Số 260 tháng 02/2019 31. Giới thiệuChỉ thị số 16/CT-TTg về tăng cường năng lực tiếp cận cách mạng công nghiệp của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 24/10/2017 khẳng định thế giới đang trải qua những thay đổi chưa từng có với nhịp độ ngày càng nhanh và qui mô ngày càng sâu rộng. Cuộc cách mạng công nghiệp với xu hướng phát triển dựa trên nền tảng tích hợp cao độ hệ thống kết nối số hóa - vật lý - sinh học với sự đột phá của internet vạn vật IoT và trí tuệ nhân tạo AI đang làm thay đổi căn bản nền sản xuất, làm thay đổi thương mại, y tế, giáo dục. Trong bối cảnh đó, Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 22 tháng 3 năm 2018 của Bộ chính trị TW Đảng về định hướng xây dựng chính sách phát triển công nghiệp quốc gia đến năm 2030 chủ trương đẩy nhanh tích hợp công nghệ thông tin và tự động hóa trong sản xuất công nghiệp nhằm tạo ra các quy trình sản xuất thông minh, mô hình nhà máy thông minh, phát triển sản xuất các sản phẩm, thiết bị thông minh. Thêm vào đó, Việt Nam đang ở vào thời kỳ đầu của quá trình cách mạng công nghiệp nhưng có tiềm năng lớn để phát triển nền kinh tế số, với hạ tầng mạng phát triển khá bền vững, phát triển nhanh về số lượng người sử dụng internet; lực lượng lao động trẻ, hiểu biết về kỹ thuật nhiên, Nghị quyết số 41/NQ-CP ngày 26 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ về chính sách ưu đãi thuế thúc đẩy việc phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin tại Việt Nam cho rằng ngành công nghệ thông tin Việt Nam vẫn đang ở quy mô nhỏ Chính phủ, 2016. Công nghiệp phần mềm - nội dung số còn manh mún. Đội ngũ nhân lực còn thiếu về số lượng và yếu về các kỹ năng chuyên sâu. Do đó Việt Nam chỉ được Diễn đàn Kinh tế Thế giới WEF xếp vào nhóm quốc gia chưa chuẩn bị cho cuộc cách mạng công nghiệp Nguyễn Văn Tuấn, 2018. Vì vậy, việc nghiên cứu tiềm năng, rào cản và vai trò của Nhà nước Việt Nam trong thực hiện cách mạng công nghiệp là rất cần thiết. Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu, bài viết thực hiện phương pháp phân tích, tổng hợp từ văn bản của Đảng và Nhà nước, bài viết của các tác giả nước ngoài, tài liệu là kết quả nghiên cứu của các tác giả trong nước và các bài viết trên các báo phổ thông. Bài viết sẽ trình bày cơ sở lý thuyết, đánh giá tiềm năng, rào cản và vai trò của nhà nước trong cách mạng công nghiệp ở Việt Cơ sở lý thuyết về cách mạng công nghiệp mạng công nghiệp thực hiện công nghệ tự động hóa và trao đổi dữ liệu trong công nghệ sản xuất Lasi & cộng sự, 2014. Cách mạng công nghiệp tạo ra những “nhà máy thông minh” có cấu trúc mô-đun, hệ thống cảm biến theo dõi các quá trình vật lý, tạo ra một bản sao ảo của thế giới vật chất và đưa ra các quyết định phi tập trung. Qua internet vạn vật IoT, các hệ thống máy móc thiết bị giao tiếp và hợp tác với nhau và với con người trong thời gian thực và sử dụng bởi những tổ chức kinh tế tham gia chuỗi giá trị Hermann & cộng sự, 2016.Cách mạng công nghiệp về cơ bản khác với ba cuộc cách mạng trước đây. Trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất thực hiện công nghiệp cơ khí hóa với đầu máy hơi nước và xe lửa. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai ra đời năng lượng điện và điện tử với kỹ thuật radio, điện tín và dây chuyền sản xuất hàng loạt. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba với máy tính, mạng internet và tự động hóa trong dây chuyền sản xuất. Các cơ sở cơ bản cho cách mạng công nghiệp nằm trong những tiến bộ trong giao tiếp và kết nối hơn là công nghệ sản xuất. Công nghệ thông tin trong cách mạng công nghiệp có tiềm năng lớn có thể kết nối hàng tỷ người với nhau và cải thiện đáng kể hiệu quả của doanh nghiệp và tổ chức và giúp tái tạo môi trường tự nhiên thông qua quản lý tài sản tốt hơn Schwab, 2016.Nội dung của cách mạng công nghiệp bao gồm những tiến bộ trong công nghệ trên ba lĩnh vực kỹ thuật số, vật lý và công nghệ sinh học. Những yếu tố cốt lõi của kỹ thuật số là Trí tuệ nhân tạo AI, internet kết nối vạn vật IoT và dữ liệu lớn Big Data. Lĩnh vực vật lý với robot thế hệ mới, máy in 3D, xe tự lái, các vật liệu mới và công nghệ nano và lĩnh vực công nghệ sinh học, ứng dụng trong nông nghiệp, thủy sản, y dược, chế biến thực phẩm, bảo vệ môi trường, năng lượng tái tạo Schwab, 2016. Cách mạng công nghiệp có tác động sâu rộng đến sản xuất và dịch vụ Müller & cộng sự , 2018. Cách mạng công nghiệp tạo ra sự khác biệt giữa một nhà máy truyền thống và một nhà máy công nghiệp cung cấp dịch vụ hoặc sản phẩm chất lượng cao với chi phí thấp Lasi & cộng sự, 2014. Sự tích hợp internet vạn vật IoT và công nghệ dịch vụ IoTS tạo ra giá trị gia tăng trong công nghiệp. Mô hình mới của số hoá và kết nối sản xuất được gọi là “Công nghiệp và sự chuyển đổi công nghệ với các nhà máy thông minh và tự chủ Hercko & Hna, 2015. Số 260 tháng 02/2019 4Các nhân tố ảnh hưởng đến cách mạng công nghiệp ở tầm vi mô bao gồm chiến lược, hoạt động, khả năng cạnh tranh, sự phù hợp của tổ chức và tiến trình sản xuất của doanh nghiệp cũng như môi trường xã hội là động lực tích cực của công nghiệp Müller & cộng sự, 2018. Dữ liệu, kết nối và khách hàng là những thứ quan trọng nhất giúp ngành công nghiệp đi nhanh hơn Immerman, 2017. Ở tầm quản lý vĩ mô của Nhà nước, các chính sách ưu đãi về kinh tế; sự đầu tư thích đáng vào công nghệ và giáo dục, đào tạo kỹ năng sẽ ảnh hưởng đến tốc độ thực hiện cuộc cách mạng công nghiệp Immerman, 2018. Nhận thức về các cơ hội và thách thức liên quan đến công nghiệp là tiền đề cho việc triển khai công nghiệp Müller và cộng sự, 2018.3. Tiềm năng của Việt Nam trong thực hiện cách mạng công nghiệp sát của Hiệp hội Phần mềm và Dịch vụ Công nghệ Thông tin VINASA cho thấy cách mạng công nghiệp ở Việt Nam phụ thuộc 77,7% vào nguồn nhân lực, 70,4% vào quyết tâm của Nhà nước, 59,1% hạ tầng công nghệ thông tin CNTT và viễn thông. Theo nhận định của Viện Nghiên cứu Topology Đài Loan, trong thị trường sản xuất thông minh toàn cầu, Việt Nam là thị trường nhỏ nhưng triển vọng Viễn Thông, 2018b. Ông Nguyễn Lưu Dũng, giám đốc của Vinamachines cho biết “Công nghiệp nội địa vẫn còn dùng hàng cũ nhiều. Nhưng bóng dáng của là rất tích cực. Tuy nhiên, hãy xem các tín hiệu như Samsung, GE hay Boeing đã và có ý định vào Việt Nam. Điều đó phản ánh rằng sự tin tưởng thế hệ công nghệ mới của Việt Nam sẽ sớm được nâng tầm” Viễn Thông, 2018b. Sáu điểm quan trọng sau đây cho thấy tiềm năng của Việt Nam trong thực hiện cách mạng công nghiệp Đảng và Nhà nước đã sớm đưa ra nhiều chủ trương, giải pháp thực hiện cách mạng công nghiệp là tiềm năng hàng đầu của Việt NamVăn kiện của Đại hội Đảng từ Đại hội IX 2001 đến Đại hội XII 2016 đã nhận định “Kinh tế tri thức có vai trò ngày càng nổi bật trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất”; “Việt Nam phải vươn lên trình độ tiên tiến thế giới, lấy khoa học, công nghệ, trí thức và nguồn nhân lực chất lượng cao làm động lực chủ yếu của nền kinh tế”. Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 30/03/1991 của Bộ Chính trị về khoa học và công nghệ đã nêu “Tập trung sức phát triển một số ngành khoa học công nghệ mũi nhọn như điện tử, tin học”. Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khoá VII xác định “Ưu tiên ứng dụng và phát triển các công nghệ tiên tiến, như công nghệ thông tin phục vụ yêu cầu điện tử hoá và tin học hoá nền kinh tế quốc dân”. Để thể chế hoá chủ trương của Đảng, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 49/CP ngày 04 tháng 8 năm 1993 về “Phát triển công nghệ thông tin ở Việt Nam trong những năm 90”. Ngày 14 tháng 10 năm 2015 Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị quyết số 36a/NQ-CP về chính phủ điện tử Chính phủ, 2015, Nghị quyết số 41/NQ-CP ngày 26 tháng 5 năm 2016 về chính sách ưu đãi thuế thúc đẩy việc phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin và Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 4/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường năng lực tiếp cận cách mạng công nghiệp Theo đánh giá của Chính phủ tại Nghị quyết số 36a/NQ-CP, hầu hết các bộ, ngành và địa phương 2 và thách thức liên quan đến công nghiệp là tiền đề cho việc triển khai công nghiệp Müller và cộng sự, 2018. 3. Tiềm năng của Việt Nam trong thực hiện cách mạng công nghiệp Khảo sát của Hiệp hội Phần mềm và Dịch vụ Công nghệ Thông tin VINASA cho thấy cách mạng công nghiệp ở Việt Nam phụ thuộc 77,7% vào nguồn nhân lực, 70,4% vào quyết tâm của Nhà nước, 59,1% hạ tầng công nghệ thông tin CNTT và viễn thông. Theo nhận định của Viện Nghiên cứu Topology Đài Loan, trong thị trường sản xuất thông minh toàn cầu, Việt Nam là thị trường nhỏ nhưng triển vọng Viễn Thông, 2018b. Hình 1 Những nhân tố tiềm năng của Việt Nam trong cách mạng công nghiệp Nguồn Anh Minh & Phương Hiền 2017. Ông Nguyễn Lưu Dũng, giám đốc của Vinamachines cho biết “Công nghiệp nội địa vẫn còn dùng hàng cũ nhiều. Nhưng bóng dáng của là rất tích cực. Tuy nhiên, hãy xem các tín hiệu như Samsung, GE hay Boeing đã và có ý định vào Việt Nam. Điều đó phản ánh rằng sự tin tưởng thế hệ công nghệ mới của Việt Nam sẽ sớm được nâng tầm” Viễn Thông, 2018b. Sáu điểm quan trọng sau đây cho thấy tiềm năng của Việt Nam trong thực hiện cách mạng công nghiệp Đảng và Nhà nước đã sớm đưa ra nhiều chủ trương, giải pháp thực hiện cách mạng công nghiệp là tiềm năng hàng đầu của Việt Nam Văn kiện của Đại hội Đảng từ Đại hội IX 2001 đến Đại hội XII 2016 đã nhận định “Kinh tế tri thức có vai trò ngày càng nổi bật trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất”; “Việt Nam phải vươn lên trình độ tiên tiến thế giới, lấy khoa học, công nghệ, trí thức và nguồn nhân lực chất lượng cao làm động lực chủ yếu của nền kinh tế”. Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 30/03/1991 của Bộ Chính trị về khoa học và công nghệ đã nêu "Tập trung sức phát triển một số ngành khoa học công nghệ mũi nhọn như điện tử, tin học". Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khoá VII xác định "Ưu tiên ứng dụng và phát triển các công nghệ tiên tiến, như công nghệ thông tin phục vụ yêu cầu điện tử hoá và tin học hoá nền kinh tế quốc dân". Để thể chế hoá chủ trương của Đảng, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 49/CP ngày 04 tháng 8 năm 1993 về "Phát triển công nghệ thông tin ở Việt Nam trong những năm 90". Ngày 14 tháng 10 năm 2015 Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị quyết số 36a/NQ-CP về chính phủ điện tử Chính phủ, 2015, Nghị quyết số 41/NQ-CP ngày 26 tháng 5 năm 2016 về chính sách ưu đãi thuế thúc đẩy việc phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin và Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 4/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường năng lực tiếp cận cách mạng công nghiệp Số 260 tháng 02/2019 5đã ứng dụng công nghệ thông tin vào việc giải quyết các thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian, giảm chi phí, tăng tính minh bạch, tạo thuận tiện cho người dân và doanh nghiệp; tỷ lệ doanh nghiệp thực hiện kê khai thuế điện tử đã tăng từ 97% năm 2014 lên 98% năm 2017. Thủ tục hải quan điện tử đã giảm thời gian thông quan hàng hóa cho doanh nghiệp. So với khu vực Đông Nam Á, Việt Nam đang có tốc độ tăng cao trong ứng dụng điện toán đám mây. Khảo sát của VINASA năm 2017 cho thấy, quyết tâm hành động của Chính phủ chính là lợi thế quan trọng nhất để Việt Nam tiếp cận với cuộc cách mạng công nghiệp Anh Minh & Phương Hiền, 2017. Việt Nam có lợi thế của người đi sau trong thực hiện cách mạng công nghiệp quyết số 23-NQ/TW ngày 22 tháng 3 năm 2018 chủ trương Việt Nam phải “tận dụng hiệu quả lợi thế của nước đi sau trong thực hiện cách mạng công nghiệp để có cách tiếp cận đi tắt, đón đầu’ một cách hợp lý trong phát triển các ngành công nghiệp”. Theo Trưởng ban Kinh tế Trung ương Nguyễn Văn Bình, cách mạng công nghiệp mang lại cơ hội cho các nước đang phát triển, giúp rút ngắn quá trình công nghiệp hoá bằng cách đi tắt đón đầu, phát triển nhảy vọt lên công nghệ cao hơn Trọng Đạt, 2018. Người Việt có tố chất sáng tạo, Việt Nam có cơ cấu dân số vàng và nguồn nhân lực trẻVăn kiện đại hội Đảng lần thứ XI năm 2016 đã nêu rõ nhiệm vụ sớm xây dựng chiến lược tiếp cận và chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, tận dụng tối đa lợi thế một nước còn đang trong thời kỳ cơ cấu dân số vàng với dân số gần 100 triệu người, tầng lớp trung lưu phát triển rất nhanh. Theo báo cáo của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới WIPO năm 2017, Việt Nam được xếp hạng thứ 47/127 về đổi mới sáng tạo toàn cầu. Bà Nirupa Chander của Tập đoàn ABB cho rằng Việt Nam có lợi thế để bắt kịp cách mạng công nghiệp Ông Nguyễn Tử Quảng, Tổng Giám đốc Tập đoàn Công nghệ BKAV cho biết “Về nguồn nhân lực, có càng nhiều thì càng tốt, nhưng tôi không nghĩ đang thiếu ở điểm đó. Tôi có thể lấy ví dụ Chúng tôi chỉ có nhân viên nhưng chúng tôi có thể sản xuất ra smartphone. Về an ninh mạng thì chúng tôi có thị phần nhiều hơn so với những phần mềm diệt virus khác, đều là những phần mềm có thứ hạng cao trên thế giới” HL, 2018. Việt Nam có hạ tầng viễn thông tương đối tốtBộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng cho rằng thuận lợi lớn nhất là chúng ta có hạ tầng viễn thông tốt, có một số doanh nghiệp viễn thông mạnh, có hạ tầng phủ sóng toàn quốc. Năm 2007, số người sử dụng internet ở Việt Nam là 17,7 triệu người, đến năm 2017 đã tăng lên mức 64 triệu người, xấp xỉ 67% dân số, đứng thứ 13 trong top 20 quốc gia sử dụng internet đông nhất thế giới. Việt Nam cũng là nước có nhịp độ tăng chi tiêu cho điện toán đám mây cao với 64,4%/năm, cao hơn mức bình quân của ASEAN 49,5%. Đến năm 2018, Việt Nam đạt 41/100 điểm đứng thứ 14 trong bảng xếp hạng về độ phủ dịch vụ Cloud. Giá cước 3G, 4G nằm trong top rẻ nhất thế Sarah Pearson, Bộ Ngoại giao và Thương mại Australia, cho rằng “Trong xu thế của cuộc cách mạng công nghiệp Việt Nam có cơ hội và tiềm năng rất lớn để xây dựng một nền kinh tế ngày càng hiện đại, hiệu quả, hội nhập” HL, 2018. Việt Nam có lợi thế trong việc thực hiện cách mạng công nghiệp trên nhiều lĩnh vực và tác động tích cực đến cải thiện khả năng cạnh tranh của quốc giaBáo cáo đánh giá mức độ sẵn sàng cho cuộc cách mạng công nghiệp của WEF, Việt Nam mặc dù vẫn ở nhóm sơ khởi nhưng khá gần với nhóm tiềm năng cao trong cách mạng công nghiệp HL, 2018. Đánh giá về các ngành kinh tế có lợi thế trong cách mạng công nghiệp với 89,9% những người được hỏi cho rằng đó là ngành công nghệ thông tin; 45,7% ngành du lịch; 44,9% ngành nông nghiệp; 47% ngành tài chính - ngân hàng và 28,3% ngành logistics Anh Minh & Phương Hiền, 2017. Mặt khác, quá trình từng bước áp dụng cách mạng công nghiệp vào các ngành có tác động qua lại với việc cải thiện năng lực cạnh tranh quốc gia. Chỉ số năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam đứng thứ 60/138 nước năm 2017 WEF, 2017 lên 56/139 nước năm 2018 WEF, 2018. Việt Nam có khả năng thu hút đầu tư của các doanh nghiệp công nghệ và ứng dụng công nghệ Nam có khả năng thu hút đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất và lắp ráp thiết bị, linh kiện kỹ thuật số với ngành cơ khí, thiết bị điện, sản phẩm điện tử. Ba công nghệ được sử dụng nhiều nhất trong công nghiệp là kết nối thiết bị, công nghệ đám mây và công nghệ cảm biến, với tỷ lệ doanh nghiệp áp dụng là 18%, 17% và 16%. Không chỉ thế, các ứng dụng Số 260 tháng 02/2019 6để phục vụ chuyển đổi số khá phong phú trong một số DN như VNPT, Sao Bắc Đẩu, Lạc Việt, MISA... là ví dụ Viễn Thông, 2018a. Ông Phạm Thế Trung - Phó giám đốc Trung tâm VNPT- IT khu vực 2 cho biết“Sao Bắc Đẩu chọn hướng đi dùng thế mạnh vốn có là các nền tảng quản trị các nguồn lực doanh nghiệp kết hợp thêm với những nền tảng về thương mại điện tử, mang đến giải pháp tổng thể từ nguồn lực nội bộ doanh nghiệp đến những nền tảng tiếp cận khách hàng” Viễn Thông, 2018aMISA đạt doanh thu 678 tỷ đồng, tăng trưởng 60% năm 2017, trong đó ứng dụng AI đóng góp quan trọng. Tương tự, đại diện Lạc Việt cũng tỏ ra lạc quan các doanh nghiệp ICT khác đã sẵn sàng cung cấp giải pháp chuyển đổi số. Ông Phạm Thế Trung - Phó giám đốc Trung tâm VNPT- IT khu vực 2 cho biết “Chúng tôi đã cung cấp ra thị trường nhiều giải pháp dịch vụ áp dụng các xu hướng công nghệ mới, trong đó hệ sinh thái hạ tầng số gồm 4 trụ cột Hạ tầng kết nối số, Trung tâm dữ liệu và hạ tầng dịch vụ công nghệ thông tin, hạ tầng dữ liệu và hạ tầng ứng dụng số” Viễn Thông, 2018a.Một số doanh nghiệp nhà nước đã có chiến lược tiếp cận với cuộc cách mạng công nghiệp như Tập đoàn điện lực, tập đoàn dầu khí, tập đoàn than-khoáng sản Việt Nam đẩy mạnh ứng dụng tin học hóa, tự động hóa vào sản xuất quản lý. Viettel đã tiếp cận công nghệ cốt lõi của cách mạng công nghiệp ứng dụng tại doanh nghiệp. Bên cạnh đó, một số doanh nghiệp tư nhân đã tổ chức triển khai như VinFast với sản xuất ôtô, FPT với IoT. FPT tuyên bố có đủ khả năng cạnh tranh ngang ngửa các cường quốc về công nghệ thông tin. Thêm nữa, ngành công nghiệp sản xuất các thiết bị cho thành phố thông minh tại TP Hồ Chí Minh đã bắt đầu hình thành trong khoảng một năm trở lại đây Viễn Thông, 2018b. 4. Những rào cản thực hiện cách mạng công nghiệp ở Việt Nhận thức về sự cần thiết và tính chất của cách mạng công nghiệp chưa rõ ràng, chưa đúng mứcHầu hết các doanh nghiệp chưa chuẩn bị sẵn sàng cho cách mạng công nghiệp họ không hiểu bản chất của nó, không sẵn sàng tiếp cận công nghệ mới. Theo khảo sát của VINASA, có tới 58,7% cơ quan, đơn vị đã tìm hiểu nhưng chưa biết chuẩn bị gì để thực hiện cách mạng công nghiệp Anh Minh & Phương Hiền, 2017.Theo đánh giá của bà Vũ Kim Hạnh - Chủ tịch Hội doanh nghiệp hàng Việt Nam chất lượng cao, có 3 điều doanh nghiệp thường băn khoăn khi nghĩ đến câu chuyện chuyển đổi số “Thứ nhất là mọi người sợ tốn tiền. Thứ hai, họ sợ bảo mật. Họ sợ rằng đưa lên đám mây thì mây nó bay lung tung’, không biết có ai thò’ lấy mất không. Cái thứ ba là nhân lực. Họ lo người ở đâu để làm mấy chuyện phức tạp này. Họ sợ cả những nhân sự nếu lấy dữ liệu công ty đi thì kiểm soát sao. Có tìm được người giỏi thì không lâu nơi khác lại kéo mất”. Các doanh nghiệp còn ngại ứng dụng công nghệ này bởi đội ngũ nhân viên chưa đủ khả năng 20%, thiếu kinh phí 44% và chưa chắc chắn vào lợi ích đối với doanh nghiệp 48% Viễn Thông,2018b. Hạ tầng viễn thông tuy là điểm mạnh của Việt Nam nhưng chưa đáp ứng nhu cầu của cuộc cách mạng công nghiệp bảng xếp hạng của WEF năm 2016, hạ tầng viễn thông của Việt Nam chỉ đứng thứ 110/193 nước, tức ở mức dưới trung bình. Trên thực tế, những thay đổi về công nghệ mới chỉ thể hiện khá ít ỏi ở một số tập đoàn công nghệ thông tin và viễn thông, khi họ bắt buộc phải gia công phần mềm, ứng dụng, quản lí internet, hệ thống bảo mật như FPT, VNPT hay Viettel Hương Lan, 2108.Theo Nguyễn Văn Tuấn 2018, mức chi tiêu về điện toán đám mây tính trên đầu người của Việt Nam còn rất thấp, chỉ bằng 1/100 so với Singapore và 1/50 so với Hàn Quốc. Hơn nữa, rào cản cho triển khai thương mại điện tử là 90% giá trị thanh toán dùng tiền mặt. Báo cáo của WEF cho thấy các chỉ số về giáo dục, khoa học và công nghệ của Việt Nam bị xếp vào nhóm thấp nhất thế giới. Do đó, họ xếp Việt Nam vào nhóm chưa chuẩn bị cho cuộc cách mạng công nghiệp Nguồn nhân lực của Việt Nam có tác động 2 mặt vừa là tiềm năng lại vừa là rào cản cho cuộc cách mạng công nghiệp Rào cản lớn nhất của Việt Nam hiện nay chính là yếu tố con người, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ mới đạt 20,2% trên tổng số lao động Anh Minh & Phương Hiền, 2017. Thêm vào đó, theo công ty FPT, kỹ sư IT mới ra trường cần ít nhất thêm 1 năm đào tạo lại mới làm được việc. Báo cáo gần đây của WEF cho thấy hạ tầng nhân lực của Việt Nam đứng thứ 127/193 nước. Tại khu vực Đông Nam Á, Việt Nam chỉ tương đương Campuchia, thua kém Singapore, Thái Lan, Philippines, Malaysia Khánh Số 260 tháng 02/2019 7Vy, 2018. Ông Đinh Duy Linh, Giám đốc Trung tâm Đào tạo bưu chính viễn thông 2, Học viện Công nghệ bưu chính viễn thông cảnh báo “Nguồn nhân lực đang là một lực cản lớn. Con số cử nhân thất nghiệp mỗi năm, nhiều trong số đó là ngành công nghệ thông tin là một thực trạng. Dù bất cứ lý do gì nữa, những con người đó “được đẩy” ra trường, ngày tốt nghiệp cũng là ngày thất nghiệp vì không đủ năng lực làm việc” Kim Yến, 2018. Qui mô của đa số doanh nghiệp là vừa và nhỏ, thiếu vốn và trình độ công nghệ thấpHơn 31% GDP của Việt Nam là từ kinh tế hộ gia đình qui mô nhỏ và siêu nhỏ. Các doanh nghiệp nhỏ sử dụng công nghệ lạc hậu từ 2-3 thế hệ cũng là một rào cản đưa công nghệ vào các ngành sản xuất. Báo cáo của WEF cho thấy việc đổi mới công nghệ của Việt Nam chỉ đứng ở vị trí 90/100 nước Khánh Vy, 2018. Ông Nguyễn Lưu Dũng, giám đốc của Vinamachines nhận định “Đa số doanh nghiệp Việt Nam đầu tư lớn thì dùng máy mới của Đài Loan, Âu Mỹ. Còn doanh nghiệp nhỏ thường dùng máy bãi. Máy bãi tức là máy vẫn hoạt động bình thường nhưng quá niên hạn sử dụng theo quy định tại nước đó. Ngành gia công cơ khí chúng ta khá lạc hậu với tầm 70% đang dùng máy cũ nên công suất thấp, những chuyển động tích cực về hướng chưa phải là đa số trong các nhà máy cơ khí”Viễn Thông, 2018b.5. Vai trò của Nhà nước trong việc phát huy tiềm năng và xóa bỏ rào cản để thực hiện cách mạng công nghiệp các nước đang phát triển như Việt Nam, Nhà nước có vai trò rất lớn trong chiến lược thực hiện cách mạng công nghiệp Tuy vậy, một trong những nguyên nhân hình thành những rào cản thực hiện cách mạng công nghiệp là do Nhà nước chưa phát huy đầy đủ vai trò của mình trong ban hành định hướng chiến lược, xây dựng và thực thi các chính sách hỗ trợ để thực hiện cách mạng công nghiệp Nhà nước cần nâng cao nhận thức của xã hội về cuộc cách mạng công nghiệp duy và nhận thức về vai trò, tầm quan trọng của công nghệ thông tin của chính quyền, doanh nghiệp và người dân chưa thực sự đầy đủ, chậm và thiếu quyết liệt. Có ý kiến cho rằng Việt Nam nên tập trung thực hiện các nội dung của cuộc cách mạng đến khi nào đủ tiền đề mới thực hiện cách mạng công nghiệp Vì vậy mỗi người cần hiểu cách mạng là gì, tác động đến ngành nghề nào để tham dự vào cách mạng công nghiệp hoặc trực tiếp kinh doanh hoặc sử dụng chính thành quả công nghệ do cách mạng công nghiệp mang lại. Nhà nước cần tăng cường thông tin, truyền thông tạo hiểu biết và nhận thức đúng về bản chất, đặc trưng, các cơ hội và thách thức của cách mạng công nghiệp Các cơ quan thông tin báo chí, truyền thông cần định hướng dư luận, giúp cho các tổ chức và người dân, có nhận thức đúng về của cuộc cách mạng công nghiệp Nguyễn Mại, 2018 Nhà nước cần xây dựng và thực hiện khung pháp lý về an toàn thông tin mạng trong quá trình thực hiện cách mạng công nghiệp bước tiến của cuộc cách mạng công nghiệp con người đang phải đối mặt với một mối đe dọa mới xuất phát từ các nền tảng AI. Do đó, phòng chống tấn công an ninh mạng là một vấn đề toàn cầu và cần phải có sự hợp tác giữa các quốc gia. Trong khi đó, Việt Nam hiện đứng 101/193 nước và đứng thấp nhất trong khu vực Đông Nam Á về chỉ số an toàn thông tin mạng. Vì thế, Nhà nước cần có những 5 Theo Nguyễn Văn Tuấn 2018, mức chi tiêu về điện toán đám mây tính trên đầu người của Việt Nam còn rất thấp, chỉ bằng 1/100 so với Singapore và 1/50 so với Hàn Quốc. Hơn nữa, rào cản cho triển khai thương mại điện tử là 90% giá trị thanh toán dùng tiền mặt. Báo cáo của WEF cho thấy các chỉ số về giáo dục, khoa học và công nghệ của Việt Nam bị xếp vào nhóm thấp nhất thế giới. Do đó, họ xếp Việt Nam vào nhóm chưa chuẩn bị cho cuộc cách mạng công nghiệp Nguồn nhân lực của Việt Nam có tác động 2 mặt vừa là tiềm năng lại vừa là rào cản cho cuộc cách mạng công nghiệp Rào cản lớn nhất của Việt Nam hiện nay chính là yếu tố con người, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ mới đạt 20,2% trên tổng số lao động Anh Minh & Phương Hiền, 2017. Thêm vào đó, theo công ty FPT, kỹ sư IT mới ra trường cần ít nhất thêm 1 năm đào tạo lại mới làm được việc. Báo cáo gần đây của WEF cho thấy hạ tầng nhân lực của Việt Nam đứng thứ 127/193 nước. Tại khu vực Đông Nam Á, Việt Nam chỉ tương đương Campuchia, thua kém Singapore, Thái Lan, Philippines, Malaysia Khánh Vy, 2018. Ông Đinh Duy Linh, Giám đốc Trung tâm Đào tạo bưu chính viễn thông 2, Học viện Công nghệ bưu chính viễn thông cảnh báo “Nguồn nhân lực đang là một lực cản lớn. Con số cử nhân thất nghiệp mỗi năm, nhiều trong số đó là ngành công nghệ thông tin là một thực trạng. Dù bất cứ lý do gì nữa, những con người đó “được đẩy” ra trường, ngày tốt nghiệp cũng là ngày thất nghiệp vì không đủ năng lực làm việc” Kim Yến, 2018. Bảng 1 Một số chỉ số về giáo dục và khoa học của Việt Nam so với các nước trong khu vực Quốc gia Phẩm chất đại học Phẩm chất toán và khoa học Công bố bằng sáng chế tính trên triệu dân Công bố khoa học tính trên triệu dân Khả năng thu hút và giữ nhân tài Việt Nam 75 68 73 74 44 Thái Lan 28 66 60 67 35 Malaysia 23 16 36 50 12 Indonesia 23 35 83 97 24 Philippines 47 60 68 92 50 NguồnNguyễn Văn Tuấn 2018. Qui mô của đa số doanh nghiệp là vừa và nhỏ, thiếu vốn và trình độ công nghệ thấp Hơn 31% GDP của Việt Nam là từ kinh tế hộ gia đình qui mô nhỏ và siêu nhỏ. Các doanh nghiệp nhỏ sử dụng công nghệ lạc hậu từ 2-3 thế hệ cũng là một rào cản đưa công nghệ vào các ngành sản xuất. Báo cáo của WEF cho thấy việc đổi mới công nghệ của Việt Nam chỉ đứng ở vị trí 90/100 nước Khánh Vy, 2018. Ông Nguyễn Lưu Dũng, giám đốc của Vinamachines nhận định "Đa số doanh nghiệp Việt Nam đầu tư lớn thì dùng máy mới của Đài Loan, Âu Mỹ. Còn doanh nghiệp nhỏ thường dùng máy bãi. Máy bãi tức là máy vẫn hoạt động bình thường nhưng quá niên hạn sử dụng theo quy định tại nước đó. Ngành gia công cơ khí chúng ta khá lạc hậu với tầm 70% đang dùng máy cũ nên công suất thấp, những chuyển động tích cực về hướng chưa phải là đa số trong các nhà máy cơ khí”Viễn Thông, 2018b. 5. Vai trò của Nhà nước trong việc phát huy tiềm năng và xóa bỏ rào cản để thực hiện cách mạng công nghiệp Với các nước đang phát triển như Việt Nam, Nhà nước có vai trò rất lớn trong chiến lược thực hiện cách mạng công nghiệp Tuy vậy, một trong những nguyên nhân hình thành những rào cản thực hiện cách mạng công nghiệp là do Nhà nước chưa phát huy đầy đủ vai trò của mình trong ban hành định hướng chiến lược, xây dựng và thực thi các chính sách hỗ trợ để thực hiện cách mạng công nghiệp Số 260 tháng 02/2019 8biện pháp để bảo vệ sự an toàn và riêng tư, tính bảo mật trong kinh doanh và đời sống xã hội Nguyễn Phan Anh, 2018. Mặt khác, khung pháp lý của Việt Nam “chưa mở” với các luồng dữ liệu xuyên biên giới so với các quốc gia trong khu vực. Vì vậy Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý tạo môi trường thuận lợi cho cách mạng công nghiệp Chu Văn, 2018. Theo đó, Việt Nam cần thực hiện tốt “Luật an toàn thông tin mạng” ban hành năm 2015; “Luật an ninh mạng” ban hành năm 2018; “Luật giao dịch điện tử” ban hành năm 2005; cũng như các qui định đã ban hành của Nhà nước về văn bản điện tử và chữ ký số. Nhà nước cần huy động nhiều nguồn vốn đầu tư và chính sách hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện cách mạng công nghiệp nhất là với doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạoChỉ thị số 16/CT-TTg ngày 4/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường năng lực tiếp cận cách mạng công nghiệp đánh giá công nghệ thông tin của Việt Nam vẫn đang ở quy mô nhỏ, công nghiệp phần mềm - nội dung số còn manh mún mà một trong những nguyên nhân là nguồn vốn từ các ngân hàng thương mại chưa đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp, còn ngân sách nhà nước đầu tư cho lĩnh vực công nghệ thông tin chưa được bố trí tập trung. Ông Nguyễn Tử Quảng, Tổng Giám đốc Tập đoàn Công nghệ BKAV đặt vấn đề“Nếu như có chính sách tốt hơn nữa thì tôi tin rằng chúng tôi sẽ có thị phần tốt trong mảng smartphone này và có thị phần tốt trong nước thì chúng tôi có thể vươn ra thị trường quốc tế. Đó là tiền đề rất tốt để Việt Nam tận dụng cách mạng công nghiệp HL, 2018.Để thực hiện cách mạng công nghiệp Nhà nước cần có chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư, phát triển, kinh doanh công nghệ mới. Tuy nhiên, Việt Nam chưa xây dựng được hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, hỗ trợ ý tưởng và tài chính cho các doanh nghiệp khởi nghiệp. Rất nhiều startup Việt Nam đã tìm ra nước ngoài hoạt động và điểm đến thường là Singapore. Một người sáng lập một startup cho biết “Ngoài nguồn vốn dồi dào, nguồn nhân lực tốt, chính phủ Singapore hỗ trợ tối đa cho các doanh nghiệp khởi nghiệp. Như đăng ký kinh doanh chỉ cần một vài tiếng, doanh nghiệp chỉ cần báo thuế khi doanh thu trên đô la Singapore, vì họ cho rằng làm điều này sẽ giảm phiền hà cho doanh nghiệp và khi đến thời điểm đó doanh nghiệp mới đủ chi phí hoạt động.” Nguyễn Đình Đạt, 2018. Do đó, để hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp hoạt động thời cách mạng đòi hỏi thị trường vốn, hoạt động quản lý ngoại hối phải cởi mở hơn và tạo thuận lợi hơn cho dòng vốn đầu tư mạo hiểm. Điều này đòi hỏi cách ứng xử của các hệ thống pháp lý, cơ quản lý phải có những thay đổi thì mới phù hợp với tính sáng tạo, thay đổi nhanh trong kinh doanh thời Nhà nước cần đầu tư phát triển hạ tầng viễn thông và chính phủ điện tử đáp ứng nhu cầu thực hiệnCần xây dựng và phát triển hạ tầng viễn thông trở thành nền tảng phát triển kinh tế chung; xây dựng và mở rộng hạ tầng băng rộng hiện đại đạt tốc độ truy cập cao, đáp ứng nhu cầu về dung lượng đang ngày càng tăng lên của người dùng, đồng thời mở rộng vùng phủ sóng; cung cấp các dịch vụ băng rộng chất lượng cao phù hợp và giá thành thấp; tập trung phát triển các nền tảng ứng dụng, đa dạng hóa dịch vụ như e-Government, e-Commerce, e-Banking, e-Learning, e-Health/Telemedicine; ứng dụng công nghệ băng rộng trong phòng chống thiên tai, an toàn, an ninh xã nay việc thực hiện Nghị quyết 36a/NQ-CP về xây dựng Chính phủ điện tử cũng gặp không ít những rào cản để cải thiện chỉ số dịch vụ công trực tuyến OSI và hạ tầng viễn thông. Theo bảng xếp hạng Chính phủ điện tử của Liên Hợp Quốc LHQ công bố về chính phủ điện tử EGDI, Việt Nam chỉ được xếp hạng 99 năm 2014 và hạng 89/193 năm 2016. So với các nước trong ASEAN, Việt Nam xếp thứ 6 sau Singapore, Malaysia, Philippines, Thái Lan và Brunei. Vì vậy, ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng Chính phủ điện tử không chỉ gắn kết chặt chẽ với cải cách thủ tục hành chính, bảo đảm an toàn, an ninh thông tin mà còn phải đẩy mạnh thực hiện cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4. Một giám đốc công nghệ thông tin kiến nghị“Quét nhà thì phải quét từ trên cao xuống chứ không ai quét từ dưới lên. Chính quyền phải trước, tức là phải có con người hệ thống pháp lý mọi thứ vận hành trơn tru không còn nhũng nhiễu người dân và doanh nghiệp thì các doanh nghiệp mới được” HL, 2018. Nhà nước cần nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực cho cuộc cách mạng công nghiệp động trình độ cao sẽ trở thành nhân tố quan Số 260 tháng 02/2019 9trọng nhất trong cạnh tranh và phát triển, đặc biệt trong cách mạng công nghiệp Tuy nhiên, chất lượng giáo dục khoa học và toán của Việt Nam đứng hạng 68/100 nước, thấp hơn các nước như Thái Lan hạng 66, Malaysia 16, Indonesia 35 và Philippines 60 Nguyễn Văn Tuấn, 2018. Bên cạnh đó, nguồn nhân lực công nghệ thông tin trong các cơ quan hành chính còn thiếu về số lượng và yếu kém về chuyên môn Trịnh Xuân Thắng, 2018. Vì vậy nhà nước cần tập trung thúc đẩy phát triển, tạo sự bứt phá về nhân lực công nghệ thông tin Thủ tướng Chính phủ, 2017. Nền giáo dục phát triển không chỉ cung cấp kiến thức mà còn hình thành kỹ năng sáng tạo mà giáo dục truyền thống không thể đáp ứng. Vì vậy cần đổi mới nội dung, phương thức đào tạo nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp. Nâng cao chất lượng đào tạo một số trường đại học, một số nghề tiếp cận trình độ các nước phát triển trong ASEAN và thế giới. Thêm vào đó, Nhà nước cần có chính sách kết nối cộng đồng khoa học và công nghệ người Việt Nam ở nước ngoài và cộng đồng trong liệu tham khảoAnh Minh & Phương Hiền 2017, Lợi thế nào cho Việt Nam tiếp cận cách mạng công nghiệp tainangviet, truy cập lần cuối ngày 20 tháng 10 năm 2018 từ Chính phủ 2015, Nghị quyết số 36a/NQ-CP về chính phủ điện tử, ban hành ngày 14 tháng 10 năm phủ 2016, Nghị quyết Số 41/NQ-CP về chính sách ưu đãi thuế thúc đẩy việc phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin’, ban hành ngày ngày 26 tháng 5 năm Văn 2018, Việt Nam có thể bứt phá trong cách mạng công nghiệp baoquocte, truy cập lần cuối ngày 15 tháng 10 năm 2018 từ Hercko, J. & Hna, J. 2015,Industry as a factor of productivity increase’, researchgate, truy cập lần cuối ngày 30 tháng 9 năm 2018 từ .HL 2018, Cách mạng Công nghiệp Bài 1 - Cơ hội và thách thức’, baomoi, truy xuất lần cuối ngày 10 tháng 10 năm 2018 từ Hương Lan 2108,Việt Nam có nhiều thuận lợi trong cách mạng công nghiệp Doanh nhan Viet, truy lần cuối ngày 25 tháng 10 năm 2018 từ http//Doanh nhan 2017, These three things are driving Industry truy cập lần cuối ngày 25 tháng 10 năm 2018 từ .Immerman,G. 2018, Factors aecting the industrial revolution machinemetrics, truy cập lần cuối ngày 30 tháng 9 năm 2018 từ Khánh Vy 2018, Việt Nam tiếp cận cuộc cách mạng công nghiệp một cách thận trọng’, congankhanhhoa, truy cập lần cuối ngày 28 tháng 9 năm 2018 từ Kim Yến 2018, Cách mạng công nghiệp cuộc đấu trí lực giữa máy và người’, brandsvietnam, truy cập lần cuối ngày 29 tháng 9 năm 2018 từ .Lasi, H., Fettke,P., Feld,T., Homann,M.2014, Industry Business & Information Systems Engineering, 4 6, 239-242Mario, H.,Tobias,P. & Boris, O. 2016, Design Principles for Industrie thiagobranquinho, truy cập lần cuối ngày 30 tháng 9 năm 2018 từ Müller, J. M. , Kiel, D. & Voigt, What Drives the Implementation of Industry The Role of Opportunities Số 260 tháng 02/2019 10and Challenges in the Context of Sustainability’, truy cập lần cuối ngày 25 tháng 10 năm 2018 từ Drives_ the_Implementation_of_Industry_40_The_Role_of_Opportunities_and_Challenges_in_the_Context_of_SustainabilityNguyễn Đình Đạt 2018, Công nghiệp và startup Việt Nam cần học từ đâu?’, BBC , truy cập lần cuối ngày 27 tháng 9 năm 2018 từ Nguyễn Mại 2018, Cách mạng công nghiệp với Việt Nam’, baodautu, truy cập lần cuối ngày 28 tháng 9 năm 2018 từ Nguyễn Phan Anh 2018, Cách mạng công nghiệp và yêu cầu đối với hệ thống giáo dục Việt Nam’, tapchitaichinh, truy cập lần cuối ngày 28 tháng 9 năm 2018 từ Văn Tuấn 2018, Vì sao Việt Nam xếp vào nhóm chưa sẵn sàng cho cách mạng công nghiệp ?’, thanhnien, truy cập lần cuối ngày 28 tháng 9 năm 2018 từ K.2016, Fourth Industrial Revolution World’ Economic Forum, 91–93 route de la Capite CH-1223 Cologny/Geneva Switzerland, truy cập lần cuối ngày 27 tháng 9 năm 2018 từ The World Economic Forum-WEF2017,The Global Competitiveness Index 2017–2018 Rankings, The World Economic Forum-WEF2018, The Global Competitiveness Index 2017–2018 Rankings, Report 2017 %E2%80% tướng Chính phủ 2017, Chỉ thị số 16/CT-TTg về việc tăng cường năng lực tiếp nhận cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, ban hành ngày 04 tháng 05 năm Xuân Thắng 2018,Tác động của cuộc cách mạng công nghiệp đến sự phát triển của nền hành chính nhà nước, truy cập lần cuối ngày 20 tháng 9 năm 2018 từ Đạt 2018, Cách mạng công nghiệp sẽ giúp Việt Nam phát triển nhảy vọt’, vietnamnet, truy cập lần cuối ngày 21 tháng 10 năm 2018 từ nghe /cach-mangse-giup-viet-nam-cong-nghie Thông 2018a,Chi phí để doanh nghiệp lên ngày càng giảm’, vnexpress, truy cập lần cuối ngày 24 tháng 10 năm 2018 từ doanh-nghiep-len-4-0-ngay-cang- rcm_detail&vn_medium=kinh doanh &vn_campaign=rcm&ctr= Thông 2018b, sau cánh cửa nhà máy’, vnexpress, truy cập lần cuối ngày 24 tháng 10 năm 2018 từ ResearchGate has not been able to resolve any citations for this implementation of Industry has a far-reaching impact on industrial value creation. Studies on its opportunities and challenges for companies are still scarce. However, the high practical and theoretical relevance of digital and connected manufacturing technologies implies that it is essential to understand the underlying dynamics of their implementation. Thus, this study examines the relevance of Industry opportunities and challenges as drivers for Industry implementation in the context of sustainability, taking a differentiated perspective on varying company sizes, industry sectors, and the company’s role as an Industry provider or user. A research model comprising relevant Industry opportunities and challenges as antecedents for its implementation is hypothesized. In order to test the model, partial least square structural equation modeling is applied for a sample of 746 German manufacturing companies from five industry sectors. The results show that strategic, operational, as well as environmental and social opportunities are positive drivers of Industry implementation, whereas challenges with regard to competitiveness and future viability as well as organizational and production fit impede its progress. Moreover, it is shown that the perception of Industry opportunities and challenges as antecedents to Industry implementation depends on different company quyết số 36a/NQ-CP về chính phủ điện tử, ban hành ngày 14 tháng 10 nămChính PhủChính phủ 2015, Nghị quyết số 36a/NQ-CP về chính phủ điện tử, ban hành ngày 14 tháng 10 năm as a factor of productivity increase', researchgate, truy cập lần cuối ngày 30 tháng 9J HerckoJ HnaHercko, J. & Hna, J. 2015,'Industry as a factor of productivity increase', researchgate, truy cập lần cuối ngày 30 tháng 9 năm 2018 từ .Factors affecting the industrial revolution machinemetrics, truy cập lần cuối ngày 30 tháng 9G ImmermanImmerman,G. 2018, 'Factors affecting the industrial revolution machinemetrics, truy cập lần cuối ngày 30 tháng 9 năm 2018 từ Việt Nam tiếp cận cuộc cách mạng công nghiệp một cách thận trọng', congankhanhhoa, truy cập lần cuối ngày 28 tháng 9Khánh VyKhánh Vy 2018, 'Việt Nam tiếp cận cuộc cách mạng công nghiệp một cách thận trọng', congankhanhhoa, truy cập lần cuối ngày 28 tháng 9 năm 2018 từ Cách mạng công nghiệp cuộc đấu trí lực giữa máy và người', brandsvietnam, truy cập lần cuối ngày 29 tháng 9Kim YếnKim Yến 2018, 'Cách mạng công nghiệp cuộc đấu trí lực giữa máy và người', brandsvietnam, truy cập lần cuối ngày 29 tháng 9 năm 2018 từ .H LasiP FettkeT FeldM HoffmannLasi, H., Fettke,P., Feld,T., Hoffmann,M.2014, 'Industry Business & Information Systems Engineering, 4 6, 239-242Design Principles for Industrie thiagobranquinho, truy cập lần cuối ngày 30 tháng 9H MarioP TobiasO BorisMario, H.,Tobias,P. & Boris, O. 2016, 'Design Principles for Industrie thiagobranquinho, truy cập lần cuối ngày 30 tháng 9 năm 2018 từ Vì sao Việt Nam xếp vào nhóm chưa sẵn sàng cho cách mạng công nghiệp ?', thanhnien, truy cập lần cuối ngày 28 tháng 9Nguyễn Văn TuấnNguyễn Văn Tuấn 2018, 'Vì sao Việt Nam xếp vào nhóm chưa sẵn sàng cho cách mạng công nghiệp ?', thanhnien, truy cập lần cuối ngày 28 tháng 9 năm 2018 từ Industrial Revolution World' Economic Forum, 91-93 route de la Capite CH-1223 Cologny/ Geneva Switzerland, truy cập lần cuối ngày 27 thángK SchwabSchwab, K.2016, 'Fourth Industrial Revolution World' Economic Forum, 91-93 route de la Capite CH-1223 Cologny/ Geneva Switzerland, truy cập lần cuối ngày 27 tháng 9 năm 2018 từ
Lazada Việt Nam ghi nhận những bứt phá về quy mô cũng như sự đầu tư mạnh vào hạ tầng, công nghệ giao vận trong năm 2021. Chịu ảnh hưởng của Covid-19 nhưng thương mại điện tử Việt Nam vẫn tăng trưởng hai con số, ở mức 18% trong mùa dịch. Xét về quy mô, thị trường thương mại điện tử Việt Nam năm 2021 tăng trưởng đến 53% so với 2020, cán mốc13 tỷ USD, theo báo cáo của Google, Temasek, Bain & một trong bốn "ông lớn" của thương mại điện tử Việt Nam, Lazada đã có một năm phát triển toàn diện, thiết lập nhiều kỷ lục về doanh số bán hàng cũng như lượng khách mua sắm, và để lại nhiều dấu ấn trong lòng người tiêu dùng tạo những con số ấn tượngLazada Group đã cán mốc 21 tỷ USD cho tổng giá trị hàng hóa của tập đoàn trong năm 2021, sau khi mở rộng lượng người tiêu dùng hoạt động lên 1,8 lần, lên 130 triệu từ tháng 3/2020 đến tháng 9/2021. Kể từ khi đặt chân vào Việt Nam năm 2012, Lazada là một trong những đơn vị thương mại điện tử có doanh thu hàng năm 2021, trong lễ hội mua sắm mừng sinh nhật lần 9, diễn ra ba ngày 27-29/3/2021, Lazada ghi nhận doanh thu toàn sàn gấp hai lần lễ hội năm trước đó chỉ trong ngày đầu. Tổng số đơn hàng thanh toán trực tuyến cũng tăng gấp 6 lần so với cùng kỳ năm 2020. Hay trong lễ hội mua sắm 6/6, nền tảng thương mại điện tử này tiếp tục ghi nhận sức mua tăng mạnh dù cả nước đối diện với làn sóng dịch Covid-19 lần thứ 4. Cụ thể, tổng doanh thu và số người mua toàn sàn tăng gấp 3 lần, tổng số đơn hàng đặt trên LazMall tăng gấp 4 lần so với cùng kỳ năm kể, đại nhạc hội Lazada Supershow diễn ra vào tối 5/6/2021 thu hút 17 triệu lượt xem trên các nền tảng truyền thông. Trong đó, thị trường Việt Nam lập kỷ lục khi đạt gần 2 triệu lượt xem trên kênh Lazlive, cao nhất so với 6 nước trong khu vực Đông Nam cả nước bước vào "bình thường mới", người tiêu dùng tiếp tục chọn Lazada là điểm đến mua sắm khi nền tảng thương mại điện tử này ghi nhận doanh thu toàn sàn và số lượng đơn đặt hàng tăng gần 2 lần. "Chốt sổ" năm 2021 với lễ hội mua sắm 12/12, doanh thu toàn sàn và số lượng đơn đặt hàng trên Lazada tăng gấp 2 lần; số lượng nhà bán hàng tham gia sự kiện này cũng tăng gấp 2,5 lần so với cùng kỳ năm 2020. "Đây là con số rất khả quan chứng tỏ sự quan tâm của người tiêu dùng với Lazada ngày càng tăng, đặc biệt trong mùa lễ hội mua sắm cuối năm", đại diện Lazada Việt Nam chia cũng là một trong những nền tảng thương mại điện tử có lượng truy cập nhiều nhất tại Việt Nam. Dữ liệu từ iPrice quý III cho thấy, từ quý II/2021, Lazada Việt Nam vươn lên hạng 2 về tổng lượt truy cập website trên tất cả sàn thương mại điện tử đa ngành. Nền tảng thương mại điện tử này đã dồn lực để phát triển hệ thống logistics, các chương trình ưu đãi, mua sắm kết hợp giải trí để gây tiếng vang và thu hút người dùng. Đến quý III/2021, Lazada Việt Nam có trung bình 21,4 triệu lượt truy cập website mỗi lực hoàn thiện hệ sinh thái thương mại điện tửÔng James Dong - Tổng giám đốc Lazada Việt Nam và Thái Lan, cho biết, hệ sinh thái của Lazada mang đến các giải pháp đáp ứng mọi nhu cầu của các thương hiệu, nhà bán hàng và người tiêu dùng khi được xây dựng dựa trên 2 yếu tố trọng tâm là phát kiến công nghệ tiên tiến và hệ thống logistics hiện đại, vững cũng thiết lập tiêu chuẩn cho thương mại điện tử mới với mô hình 3-Easy Easy to buy - Dễ dàng mua sắm; Easy to sell - Dễ dàng buôn bán; và Easy to deliver - Dễ dàng vận chuyển. Theo đó, sàn thương mại điện tử này mang đến những đề xuất tìm kiếm và giao diện mua sắm được cá nhân hoá theo sở thích và thói quen của người tiêu dùng, từ đó người tiêu dùng có thể dễ dàng và thuận tiện mua sắm hơn. Ở khía cạnh hỗ trợ nhà bán hàng, nền tảng này rút ngắn quy trình lên sàn, cùng loạt những giải pháp về quản lý kinh doanh bằng biểu đồ thời gian thực, giải pháp marketing sản phẩm... Với hoạt động vận chuyển, Lazada tối ưu hoá quy trình, đảm bảo giao hàng đúng hẹn, giao hàng không tiếp xúc để hạn chế rủi ro cho người mua lẫn người bán. Hệ thống phân loại hàng hóa tự động của Lazada Việt Nam. Ảnh Lazada Việt Nam Bên cạnh đó, Lazada còn dồn lực đầu tư xây dựng một hệ sinh thái thương mại điện tử bền vững thông qua công nghệ và logistics, dựa trên nền tảng giá trị cốt lõi "Customer First - Khách hàng là ưu tiên hàng đầu". Ông Vũ Đức Thịnh - Giám đốc Logistics Lazada Việt Nam cho rằng, hệ thống logistics chính là điểm sáng của Lazada trên thị trường thương mại điện tử. Đây cũng là một trong những ưu tiên trong chiến lược phát triển của Lazada để đảm bảo khách hàng có những trải nghiệm mua sắm tối ưu nhất. Nền tảng thương mại điện tử này đã xây dựng một hệ thống logistics vững chắc của riêng mình, có khả năng tự vận chuyển hơn 80% lượng đơn hàng của Lazada trên thị vào đó, Lazada phát triển dịch vụ giao vận đa kênh MCL - xử lý đơn hàng toàn diện giúp các nhà cung cấp dịch vụ thương mại điện tử và các thương hiệu hoàn thiện khâu giao vận logistics một cách thông suốt. Theo đó, dù người tiêu dùng đặt mua hàng trên Lazada hay bất cứ nền tảng thương mại điện tử nào, Lazada Logistics cũng sẽ tiếp nhận và giao tất cả các đơn hàng. Nhờ vậy, hoạt động giao hàng của nền tảng thương mại điện tử này diễn ra thông suốt, bất chấp ảnh hưởng của dịch bệnh giai đoạn cao điểm của làn sóng Covid-19 lần thứ 4. Và người giao hàng shipper của Lazada chính là những người đầu tiên giao vận trên đường phố ngay sau khi TPHCM nới lỏng lệnh giãn cách xã cao trải nghiệm người dùngTrong bối cảnh đại dịch Covid-19 cùng ảnh hưởng của cuộc cách mạng công nghiệp việc phát triển của thương mại điện tử đã rút ngắn khoảng cách giữa khách hàng với doanh nghiệp thông qua chạm touch hay click chuột. Việc giữ chân khách hàng, gia tăng giá trị trải nghiệm trở thành ưu tiên với nhiều doanh nghiệp và Lazada cũng không ngoại bà Nguyễn Thị Thúy Hằng, Giám đốc Marketing Lazada Việt Nam, sự thấu hiểu hành vi khách hàng là yếu tố giúp doanh nghiệp gia tăng các trải nghiệm trên ứng dụng mua sắm. Dựa trên nguồn dữ liệu lớn từ hàng chục triệu người dùng, đội ngũ của Lazada có thể phân tích, thấu hiểu tâm lý, nhu cầu, hành vi của khách hàng, từ đó thiết kế chương trình, đề nghị tìm kiếm và đề nghị sản phẩm phù hợp. Tại Lazada, người dùng còn có thể chơi game, xem livestream, tương tác với người nổi tiếng đồng thời vẫn có thể mua sắm, săn ưu đãi và bỏ hàng vào giỏ cùng tảng này tiên phong triển khai mô hình "shoppertainment", tức là mua sắm kết hợp giải trí nhằm đáp ứng và nâng cao trải nghiệm của người dùng. Ngày càng nhiều người dùng mong chờ những đêm đại nhạc hội của Lazada với cả triệu người theo dõi cùng lúc. Một chương trình livestream trên Lazada. Ảnh Lazada Việt Nam Về phía nhà bán hàng, Lazada đã linh hoạt ứng dụng AI góp phần tạo nên hành trình tối ưu với mỗi khách hàng, từ khi mới có nhu cầu mua sắm cho đến lúc hoàn tất đơn hàng, dựa trên từng thói quen, sở thích... của mỗi người. Tại Lazada, dựa trên số liệu thu thập và phân tích bởi công cụ tích hợp AI, nhà bán hàng có thể ghi nhận những ưu đãi phù hợp dựa theo độ tuổi, giới tính, khu vực, việc làm..."Quá trình giao hàng kết hợp cùng thương mại điện tử như Lazada nhanh chóng và dễ dàng hơn bởi chúng tôi luôn không ngừng cải tiến về mặt công nghệ. Ứng dụng AI, tự động hóa quy trình và giúp thiết kế tuyến đường vận chuyển hợp lý nhất. Đây là lợi thế to lớn mà thương mại điện tử mang lại cho doanh nghiệp", ông Nguyễn Huy Hoàng, Giám đốc Phát triển Đối tác Kinh doanh Lazada Việt Nam chia sẻ tại CTO Summit báo cáo Quý III/2021 của Lazada Việt Nam, số lượng thương hiệu và nhà bán hàng tham gia kinh doanh trên Lazada tăng gấp 1,5 lần. Trong đó có những thương hiệu lớn như Estée Lauder, Shiseido, Shu Uemura, Starbucks, Dyson, VinMart... Những thương hiệu F&B như Pizza 4P’s, Vua Cua, Paris Baguette... cũng tìm đến "lối thoát" trên thương mại điện tử trong thời điểm dịch bệnh căng thẳng, dừng mọi hoạt động kinh doanh ăn uống tại song với việc phát triển kinh doanh, Lazada cũng tích cực tham gia các hoạt động cộng đồng. Tháng 6/2021, nền tảng này triển khai gói hỗ trợ gồm tiền và vật phẩm cho các bác sĩ, quân nhân tuyến đầu và cộng đồng trong làn sóng dịch Covid-19 thứ 4. Lazada và Quỹ Hy vọng cũng khởi động chương trình "Be Strong Vietnam – Cùng nhau vượt qua đại dịch" thông qua hình thức quyên góp trực tuyến trên nền tảng Lazada. Cụ thể, khách hàng có thể sử dụng xu trong tài khoản Lazada đổi lấy các gói đóng góp với các mệnh giá khác nhau để ủng hộ. Đến tháng 8, nền tảng thương mại điện tử phát động chiến dịch "Không Sao Mà, Việt Nam Ơi" nhằm lan tỏa năng lượng tích cực tới cộng đồng cũng như ủng hộ các tuyến đầu trong cuộc chiến chống dịch Covid-19. Lazada Việt Nam không ngừng cải thiện chất lượng dịch vụ giao hàng. Ảnh Lazada Việt Nam "2021 là một năm đáng nhớ", theo ông James Dong - Tổng giám đốc Lazada Việt Nam và Thái Lan. Đại dịch đã kích thích hàng triệu khách hàng mới trải nghiệm mua sắm trực tuyến lần đầu tiên. Cùng với đó, các thương hiệu và nhà bán hàng có thêm một kênh tiềm năng để phát triển và phục hồi kinh doanh sau làn sóng Covid-19. "Thương mại điện tử đã chuyển mình từ một kênh phụ trở thành một phần cốt lõi trong chiến lược tăng trưởng của thương hiệu và nhà bán hàng", ông James Dong khẳng nỗ lực của Lazada Việt Nam phần nào được khẳng định qua giải thưởng "Top 10 Tin dùng Việt Nam 2021" hạng mục "Thương mại điện tử, giáo dục & Dịch vụ số" do Tạp chí Kinh tế Việt Nam - VnEconomy tổ gian tới, Lazada sẽ tích cực đầu tư và đổi mới sáng kiến để chinh phục ngày càng nhiều người dùng trên nền tảng số. Gần nhất là lễ hội mua sắm "Tết mới, Sale to" từ ngày 5 đến 14/1. Với thông điệp "Mở Lazada, Mở ra Tết mới", xuyên suốt 10 ngày, người tiêu dùng có thể mua sắm hàng triệu sản phẩm, đa dạng các ngành hàng với ưu đãi giảm giá lên đến 50%, tận hưởng miễn phí giao hàng, voucher giảm giá cũng như hòa mình vào loạt hoạt động mua sắm kết hợp giải trí đặc sắc. "Hãy cùng Lazada mở ra một năm 2022 bình thường mới với nhiều điều tươi vui và tốt đẹp hơn", đại diện Lazada kỳ Anh
thương mại điện tử cách mạng công nghiệp 4.0