qua bài thơ qua đèo ngang, trình bày cảm nhận của em về cảnh thiên nhiên đất nước Lớp 9 Lớp 8 Lớp 7 Lớp 6 Lớp 5 Lớp 4 Lớp 3 bài thơ “Qua Đèo Ngang” cho thấy cảnh tượng Đèo Ngang thoáng đãng mà heo hút, thấp thoáng có sự sống của con người nhưng còn hoang sơ, đồng thời, thể hiện nỗi nhớ nước, thương nhà, nỗi buồn thầm lặng, cô đơn của tác giả. 4. Giá trị nghệ thuật. III. Dàn ý phân Soạn văn 7 VNEN bài 6: Qua đèo ngang. Trang chủ. Lớp 7. VNEN ngữ văn 7 tập 1. Soạn văn 7 VNEN bài 6:Qua đèo ngang trang 38. Sách này nằm trong bộ VNEN của chương trình mới. Dưới đây sẽ hướng dẫn trả lời và giải đáp các câu hỏi trong bài học. Cách soạn chi tiết, dễ hiểu. Hi Đề bài: Phân tích bài thơ Qua Đèo Ngang của bà Huyện Thanh Quan. Bài văn mẫu. Bà Huyện Thanh Quan một trong những nữ văn sĩ nổi tiếng của văn học trung đại Việt Nam. Thơ văn bà để lại cho hậu thế không còn nhiều, trong đó nổi tiếng nhất là phải kể đến bài Qua đèo Qua Đèo Ngang Share on Facebook Share on Twitter Hôm nay, trungvietlaptop.com sẽ cung cấp đến các bạn học sinh tư liệu Soạn văn 7: thực hành tiếng Việt trang 116 Soạn văn 7 VNEN Bài 6: Qua đèo ngang A. Hoạt động khởi động (Trang 38 Ngữ Văn 7 VNEN tập 1). Đọc phần chú thích sau bài thơ Qua đèo Ngang và dựa vào các kiến thức đã học hãy chỉ ra những đặc điểm của các thể thơ sau: • Thất ngôn tứ tuyệt • Ngũ ngôn tứ tuyết Hãy nhận xét về cảnh tượng Đèo Ngang trong bài thơ “Qua đèo ngang” qua sự miêu tả của Bà Huyện Thanh Quan. Xem đáp án » 10/07/2020 1,284 Câu 3: Qua Đèo Ngang. VnDoc xin giới thiệu bài Lý thuyết Ngữ văn 7: Qua Đèo Ngang được chúng tôi sưu tầm và tổng hợp nhằm giúp ích cho các bạn học sinh cùng quý thầy cô tham khảo để giảng dạy và học tập tốt Ngữ văn lớp 7. Lưu ý: Nếu bạn muốn Tải bài viết này về máy tính App Vay Tiền Nhanh. I - KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG 1. Bà Huyện Thanh Quan tên thật là Nguyễn Thị Hĩnh, sống ở thế kỉ XIX, người làng Nghi Tàm, nay thuộc quận Tây Hồ, Hà Nội. Bà là nữ sĩ tài danh, hiện còn để lại sáu bài thơ Đường luật. 2. Với phong cách trang nhã, bài thơ Qua Đèo Ngang cho thấy cảnh tượng Đèo Ngang hoang sơ, heo hút, thấp thoáng sự sông, đồng thời thê hiện tình cảm nhớ nước thương nhà, nỗi buồn thầm lặng cô đơn của tác giả. II - HƯỚNG DẪN ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN 1. Bài thơ Qua Đèo Ngang là thơ Đường luật thất ngôn bát cú. Bài thơ gồm 8 câu, mỗi câu có bảy tiếng, vần được gieo ở cuối câu 1, 2, 4, 6, 8 tà, hoa, nhà, gia, ta. Câu 3 và 4 đối nhau lom khom dưới núi - lác đác bên sông ; tiều vài chú - chợ mây nhà. Câu 5 và 6 đối nhau Nhớ nước đau lòng - Thương nhà mỏi miệng; con quốc quốc - cái gia gia. 2. Cảnh tượng Đèo Ngang được miêu tả ở thời điểm chiều tà bóng xế trong ngày. Thời điểm đó dễ gợi tâm trạng buồn của con người, nhất là người phụ nữ, trên đường đi xa. 3. Cảnh Đèo Ngang được mô tả gồm những chi tiết cỏ, cây, đá, vài chú tiều, mấy nóc nhà, dãy núi, dòng sông, tiếng chim đa đa, chim cuốc. Những chi tiết đó cho thây Đèo Ngang um tùm, rậm rạp cỏ cây chen đá, lá chen hoa. Con người thì ít ỏi, thưa thớt mấy người đốn củi, vài nóc nhà lại bị chìm lút trong thiên nhiên bởi tư thế lom khom, bởi số lượng và sự phân bố lác đác. Tiếng kêu quốc quốc, gia gia khắc khoải càng gợi lên cảm giác buồn giữa không gian hoang vắng. 4. cảnh tượng Đèo Ngang là cảnh um tùm cây cỏ, hoang vắng, thưa thớt con người, cảnh đó lại kèm theo tiếng chim cuốc, chim đa đa nên lại càng buồn, càng hoang vắng, cảnh đó tạo điều kiện để tác giả thể hiện tình cảm nhớ quê hương và cô đơn, âm thầm buồn của mình khi đốì diện với thiên nhiên. 5. Tâm trạng của Bà Huyện Thanh Quan khi qua Đèo Ngang là tâm trạng buồn, cô đơn, nhớ nhà, nhớ nước cũ. Tác giả đã mượn cảnh thưa vắng con người, rậm rạp cây lá, mượn tiếng chim gợi nhớ nước nhà quốc quốc, gia gia để nói tình cảm buồn và tả trực tiếp một mảnh tình riêng, ta với ta — tình cảm cô đơn. 6. Nói một mảnh tình riêng ta với ta giữa cảnh trời, non, nước bao la ỏ Đèo Ngang khác với nói ở không gian khác. Bởi vì ở một nơi rộng lớn, con người càng thấy cô đơn và bé nhỏ. Nếu cô đơn thì sự cô đơn như được nhân lên nhiều lần bởi sự cộng hưỏng của môi trường. III - HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP Cụm từ ta với ta thể hiện không có nhiều đối tượng - Ta thứ nhất là bản thân người nói. - Ta thứ hai cũng chính là bản thân người nói. - Ta với ta là không có ai khác, chỉ có một mình nhà thơ. Tác giả tác phẩm lớp 7 Qua Đèo NgangHoàn cảnh sáng tác, Dàn ý phân tích tác phẩm Qua Đèo NgangBài thơ Qua Đèo Ngang - Nội dung bài thơ, Hoàn cảnh sáng tác, Dàn ý phân tích tác phẩm được VnDoc sưu tầm và đăng tải nhằm giới thiệu Nội dung tác phẩm, Hoàn cảnh sáng tác nằm trong chương trình giảng dạy môn Ngữ văn lớp 7. Mời quý thầy cô cùng các bạn tham khảo tài liệu dưới đâyCảm nghĩ của em về bài thơ Qua đèo Ngang của Bà Huyện Thanh QuanGiải vở bài tập Ngữ văn 7 bài 8 Qua đèo ngangLưu ý Nếu bạn muốn Tải bài viết này về máy tính hoặc điện thoại, vui lòng kéo xuống cuối bài giao lưu và dễ dàng chia sẻ các tài liệu học tập hay lớp 7, mời các bạn tham gia nhóm facebook Tài liệu học tập lớp dung bài thơ Qua Đèo NgangBước tới Đèo Ngang, bóng xế tà,Cỏ cây chen đá, lá chen khom dưới núi, tiều vài chú,Lác đác bên sông, chợ mấy nước đau lòng con quốc quốc,Thương nhà mỏi miệng cái gia chân đứng lại trời, non, nước,Một mảnh tình riêng ta với Đôi nét về tác giả Bà Huyện Thanh Quan- Tên thật là Nguyễn Thị Hinh, sống ở thế kỉ XIX, chưa rõ năm sinh, năm mất- Quê quán phường Nghi Tàm, huyện Vĩnh Thuận, gần Hồ Tây nay là phường Quảng An, quận Tây Hồ, Hà Chồng bà làm tri huyện Thanh Quan thuộc Thái Ninh, tỉnh Thái Bình, do đó mà có tên gọi Bà Huyện Thanh Quan- Cuộc đờiLà vợ của Lưu Nghị 1804-1847 làm quan trải đến chức Viên ngoại lang bộ Hình, nhưng mất sớm 43 tuổiDưới thời vua Minh Mạng, bà được mời vào kinh giữ chức Cung Trung Giáo Tập để dạy học cho các công chúa và cung một tháng sau khi chồng mất, bà lấy cớ sức yếu xin thôi việc, rồi dẫn bốn con về lại Nghi Tàm và ở vậy cho đến hết Sự nghiệp văn chươngBà là một trong số nữ sĩ tài danh hiếm có trong thời đại ngày xưa, hiện còn để lại sáu bài thơ Đường bà thể hiện lòng yêu mến cảnh quan thiên nhiên, đất nước và tâm sự u hoài trước thế sự đổi thay. Tác phẩm nào của bà cũng buồn thương da diết, trang nhã và rất điêu bài thơ Đường luật của bà Thăng Long thành hoài cổ, Qua chùa Trấn Bắc, Qua Đèo Ngang, Chiều hôm nhớ nhà, Tức cảnh chiều thu, Cảnh đền Trấn Võ, Cảnh Hương Đôi nét về tác phẩm Qua Đèo Ngang1. Hoàn cảnh ra đờiDưới thời vua Minh Mạng, bà Huyện Thanh Quan được mời vào kinh đô Huế giữ chức Cung Trung giáo tập để dạy học cho công chúa và cung phi. Trên đường di chuyển từ Bắc Hà vào Huế, bà có dừng chân nghỉ ngơi tại Đèo Ngang - đây là lần đầu tiên bà đến nơi này. Đứng trước khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ của Đèo Ngang, bà tức cảnh sinh tình mà sáng tác nên bài thơ Qua đèo Ngôn ngữBài thơ Qua Đèo Ngang được viết bằng chữ Nôm3. Thể thơ- Bài thơ Qua Đèo Ngang được viết bằng thể thơ thất ngôn bát cú đường Đặc điểm thể thơ thất ngôn bát cú đường luậtGồm có 8 câu thơ, mỗi câu thơ có 7 chữThường triển khai nội dung theo bố cục đề - thực - luận - kết4. Phương thức biểu đạt- PTBĐ tự sự kết hợp miêu tả và biểu cảm5. Bố cục bài thơ Qua Đèo Ngang- Gồm 4 phầnSTTGiới hạnNội dungPhần đềCâu thơ 1 và 2Cái nhìn chung về cảnh vật Đèo NgangPhần thựcCâu thơ 3 và 4Cuộc sống của con người ở Đèo NgangPhần luậnCâu thơ 5 và 6Tâm trạng của tác giảPhần kếtCâu thơ 7 và 8Nỗi cô đơn đến tột cùng của tác giả3. Giá trị nội dungbài thơ “Qua Đèo Ngang” cho thấy cảnh tượng Đèo Ngang thoáng đãng mà heo hút, thấp thoáng có sự sống của con người nhưng còn hoang sơ, đồng thời, thể hiện nỗi nhớ nước, thương nhà, nỗi buồn thầm lặng, cô đơn của tác giả4. Giá trị nghệ thuật- Thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật- Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình- Sử dụng từ láy gợi hình gợi cảm và nghệ thuật đối lập, đảo ngữIII. Dàn ý phân tích tác phẩm Qua Đèo Ngang1. Mở bài- Giới thiệu về tác giả Bà Huyện Thanh Quan tiểu sử, sự nghiệp sáng tác, đặc điểm sáng tác…- Giới thiệu về bài thơ “Qua Đèo Ngang” hoàn cảnh ra đời, khái quát giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật…2. Thân bàia. Cái nhìn chung về cảnh vật Đèo Ngang- Thời gian xế chiều – thời điểm dễ gợi nên nỗi buồn cô đơn, sự trống vắng- Không gian Đèo Ngang – một con đèo hùng vĩ, phân chia hai tỉnh Quảng Bình, Hà Tĩnh, là ranh giới phân chia Đàng Trong và Đàng Ngoài ngày xưa- Cảnh vậtCác sự vật cỏ cây, lá, đá, hoaĐộng từ chen – lẫn vào nhau, không ra hàng ra lối, động từ “chen” chen vào giữa hai câu thơ gợi cảnh tượng rậm rạp, hoang sơ⇒ Cảnh vật đầy sức sống nhưng hoang sơ, rậm rạp và hắt hiub. Cuộc sống con người ở Đèo Ngang- Sử dụng từ láy có giá trị gợi hình lom khom, lác đác – gợi cảm giác thưa thợt, ít ỏi- Nghệ thuật đảo ngữLom khom … tiều vài chúLác đác … chợ mấy nhà⇒ Nhấn mạnh sự nhỏ bé, ít ỏi, nhỏ nhoi của sự sống ở giữa cảnh vật thiên nhiên rộng lớn, hoang sơ⇒ Hình ảnh con người hiện lên thưa thớt, ít ỏi làm cho cảnh vật thêm hoang vắng, tiêu điều. Qua đó, gợi cảm giác buồn hiu, vắng lặng của tác giảc. Tâm trạng của tác giả- Âm thanh của chim quốc quốc, gia gia nghệ thuật lấy động tả tĩnh, chơi chữ. Tiếng chim quốc, chim gia gia nhớ nước, thương nhà cũng chính là tiếng lòng của tác giả thiết tha, da diết nhớ nhà, nhớ quá khứ của đất nước- Câu thơ như một tiếng thở dài của tác giả⇒ Tâm trạng nhớ nước, nhớ nhà, nhớ quê hương của tác giả. Đó cũng chính là tâm trạng hoài cổ của nữ sĩd. Nỗi cô đơn tột cùng của tác giả- Con người nhỏ bé, lẻ loi, cô đơn, một mình đối diện với cả vũ trụ bao la, rộng lớn- “Một mảnh tình riêng, ta với ta” một nỗi buồn, một nỗi cô đơn không có ai để se chia, san sẻ⇒ Tâm trạng cô đơn, trống vắng, lẻ loi một mình đối diện với chính mình giữa vũ trụ bao la, rộng lớn3. Kết bài- Khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của tác giảNội dung Cảnh tượng Đèo Ngang thoáng đãng mà heo hút, thấp thoáng sự sống của con người và tâm trạng nhớ nước, thương nhà và nỗi cô đơn của tác giảNghệ thuật thể thơ thất ngôn bát cú, sử dụng từ láy, nghệ thuật đảo ngữ…......................................Như vậy là chúng tôi đã giới thiệu cho các bạn bài Bài thơ Qua Đèo Ngang - Nội dung bài thơ, Hoàn cảnh sáng tác, Dàn ý phân tích tác phẩm. Mời các bạn tham khảo thêm đề thi học kì 1 lớp 7 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, vọng rằng tài liệu lớp 7 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp liệu tham khảoSoạn bài Qua đèo NgangSoạn Văn 7 Qua đèo ngangPhân tích bài thơ Qua đèo Ngang của Bà Huyện Thanh QuanCảm nghĩ của em về bài thơ “Qua đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh QuanTâm trạng của tác giả trong bài thơ Qua đèo ngang Lý thuyết Ngữ văn 7VnDoc xin giới thiệu bài Lý thuyết Ngữ văn 7 Qua Đèo Ngang được chúng tôi sưu tầm và tổng hợp nhằm giúp ích cho các bạn học sinh cùng quý thầy cô tham khảo để giảng dạy và học tập tốt Ngữ văn lớp ý Nếu bạn muốn Tải bài viết này về máy tính hoặc điện thoại, vui lòng kéo xuống cuối bài viết1/ Tìm hiểu chung tác phẩm Qua Đèo Nganga/ Tác giả- Bà Huyện Thanh Quan 1805 – 1848.- Tên thật là Nguyễn Thị Hinh là một nhà lớn nổi tiếng trong thời văn học trung Bà sinh ra tại mảnh đất Nghi Tàm, Vĩnh Thuận, Tây Bà là một người phụ nữ tài giỏi nên được cử một chức quan vào cung dạy học cho những cung phi công Bà để lại các tác phẩm tiêu biểu như+ Qua đèo ngang+ Thăng Long thành hoài cổ+ Chiều hôm nhớ nhà+ Tức cảnh chiều thub/ Tác phẩm- Hoàn cảnh sáng tác+ Bài thơ được viết khi Bà Huyện Thanh Quan vào Phú Xuân - Huế nhận chức quan của mình.+ Bài thơ này được viết vào khoảng thế kỉ XIX, khi tác giả lần đầu tiên tới Đèo Thể thơ Thất ngôn bát cú đường Bố cục 4 phần Đề, thực, luận, kết+ Hai câu luận bàn luận, nhận xét+ Hai câu thực miêu tả cụ thể cảnh và người+ Hai câu đề mở ý+ 2 câu cuối khép lại mạch ý bài thơ. Đó chính là nỗi lòng của Bà Huyện Thanh Đọc - hiểu văn bản Qua Đèo Nganga/ Hai câu đề"Bước tới đèo Ngang bóng xế tàCỏ cây chen đá lá chen hoa"- Thời điểm bóng xế tà→ Ánh nắng nhạt của chiều muộn ⇒ Gợi nỗi buồn.→ Gợi lên một nỗi buồn man Cảnh cỏ cây chen đá > < Mảnh tình riêng ta với ta+ Cảnh bao la, bát ngát, hùng vĩ, trùng điệp → Ấn tượng mênh mông, xa lạ, vắng vẻ và tĩnh lặng+ Tình nhỏ nhoi, cô đơn tuyệt đối⇒ Hình ảnh đối lập. Cảnh bao la khôn cùng, con người buồn bã, cô đơn, nhỏ bé⇒ Gợi tâm sự sâu kín về nỗi nhớ nước, thương nhà da diết, âm thầm, lặng lẽ của con người trước cảnh vật bao la và rộng lớn..* Tổng kết Nghệ thuật - Sử dụng thể thơ Thất ngôn bát cú Đường luật điêu luyện- Sử dụng bút pháp nghệ thuật tả cảnh ngụ tình đặc Bút pháp miêu tả kết hợp với biểu cảm hấp Lời thơ trang nhã, điêu luyện; âm điệu trầm Sử dụng phép đối, từ láy trong việc tả cảnh, tả dung Cảnh đèo Ngang thoáng đãng mà heo hút, thấp thoáng của sự sống con người nhưng còn hoang nghĩa - Bài thơ thể hiện nỗi nhớ nước, thương nhà, nỗi buồn cô đơn thầm lặng của tác Nỗi niềm hoài cổ của nhà thơ trước cảnh vật Đèo Bài tập minh họa bài Qua Đèo NgangĐề bài Phân tích bài thơ "Qua Đèo Ngang" của Bà Huyện Thanh Mở bài- Họ tên là Nguyễn Thị Hinh sống vào giữa thế kỉ 19. Quê ở Nghi Tàm, Thăng Long; sinh trưởng trong một gia đình quyền quý cuối thời Lê – Trịnh. Chồng bà làm quan huyện Thanh Quan tỉnh Thái Bình nên người đời ái mộ gọi bà là Bà Huyện Thanh Bà hay chữ, giỏi thơ; hiện còn lại sáu bài thơ Nôm “Qua Đèo Ngang”, “Chiều hôm nhớ nhà”, “Thăng Long thành hoài cổ’”,… Thơ của bà trang trọng du dương, rất điêu luyện. Bà hay nói đến hoàng hôn và li biệt. Thơ bà thấm một nỗi buồn man mác, cô thơ “Qua Đèo Ngang” có thể được nữ sĩ viết vào khi trên đường thiên lí vào kinh đô Phú Xuân làm nữ quan “Cung trung giáo tập”. Bài thơ được viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật, luật trắc vần bằng. “Qua Đèo Ngang” tả cảnh Đèo Ngang lúc ngày tàn và nói lên nỗi buồn nhớ, cô đơn của người lữ khách“Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà,……….Một mảnh tình riêng ta với ta”.2/ Thân bàia/ Phần đề- Đèo Ngang là địa giới tự nhiên giữa hai tỉnh Hà Tĩnh – Quảng Bình. Dãy Hoành Sơn chạy dài ra tận bờ biển mà tạo thành con đèo “đệ nhất hùng quan” của Đại Câu phá đề nói lên thời điểm khi nữ sĩ vừa “bước tới” chân đèo. Đó là lúc mặt trời đã gác núi, lúc “bóng xế tà”. Thời khắc ấy thường rất buồn, nhất là đối với khách li hương. Chữ “tà” để gieo vần, là trầm bình thanh thanh bằng có dấu huyền cũng tạo nên âm điệu trầm buồn như kéo dài mãi Câu thừa đề gợi tả cảnh quan con đèo. Cỏ, hoa, lá, đá “chen” nhau mà tồn tại. Cảnh cằn cỗi hoang vu. Điệp ngữ “chen” tô đậm nét cằn cỗi, hoang vu ấy. Chữ “lá” vần với chữ “đá” tạo nên một vần lưng đặc sắc, hòa điệu với vần chân “tà – hoa”, âm điệu thơ trầm bổng, du dương. Hoa được nói tới là hoa rừng, hoa mua, hoa sim tím, một “màu hoang biền biệt” thơ Hữu Loan.b/ Phần thực- Cuộc sống và con người nơi Đèo Ngang hơn 150 năm về trước. Cành vật đối nhau có núi và sông, có mấy chú tiều phu “lom khom” gánh củi và mấy nhà chợ “lác đác” thưa thớt. Chợ miền núi, chợ chiều nên trống trơ, hoang Cặp từ láy “lom khom” và “lác đác” đứng đầu câu thơ đảo ngữ vừa tạo nên ấn tượng sâu sắc về cuộc sống hoang vắng, nghèo nàn nơi Đèo Ngang. Nữ sĩ càng cảm thấy mình bơ vơ, trơ trọi và buồn khôn xiết Phần luận- Trời tối dần, chim rừng cất tiếng gọi đàn con cuốc cuốc và cái gia gia. Khúc nhạc rừng cất lên, lúc hoàng hôn rất buồn, gợi lên bao nỗi niềm đối với li khách vừa “nhớ nước, đau lòng” vừa “thương nhà mỏi miệng”. Tiếng chim cũng là tiếng lòng. Bút pháp tả cảnh ngụ tình rất đặc Phép đối và đảo ngữ vừa tạo hình vừa tạo nhạc; vần thơ rung lên làm xúc động, làm thổn thức hồn Phần kết- Bốn chữ “dừng chân đứng lại” gợi tả một cử chỉ, một hành động, một tâm trạng ngơ ngác, bồi hồi. Đứng lại để nhìn con đèo; dừng chân để nghe tiếng chim gọi đàn. Giữa mênh mông “trời non nước”, lữ khách chỉ thấy mình trơ trọi “ta với ta”. Chút “tình riêng” như tan ra thành “mảnh”, buồn đau tê tái. Chữ “một” đứng đầu câu thơ cuối bài đã đặc tả nỗi buồn lẻ loi, cô đơn của tác giả khi một mình đứng trên đỉnh Đèo Ngang lúc ngày Hình tượng thơ được đặt trong thế tương phản độc đáo. Cái mênh mông, bao la, vô hạn của “trời non nước’’ tương phản cái “ta” nhỏ bé, lẻ loi và đơn côi. Nỗi nhớ quê nhớ nhà dâng lên trong lòng li khách không thể nào kể Trong bài thơ “Chiều hôm nhớ nhà”, hai câu kết cũng đã cực tả nỗi buồn nhớ da diết, nhớ quê, nhớ nhà, nhớ người thân thương của người lữ khách“Kẻ chốn Chương Đài, người lữ thứ,Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn”3/ Kết bài- “Qua Đèo Ngang” là bài thơ Nôm thất ngôn bát cú Đường luật rất đặc sắc. Vần thơ, niêm luật, bố cục và phép đối chặt chẽ chứng tỏ một bút pháp nghệ thuật độc đáo, điêu luyện. Hình tượng thơ mang tính ước lệ tượng trưng nhưng rất biểu cảm, nhất là âm điệu, nhạc điệu bổng trầm, du dương như cuốn hút hồn Cảnh Đèo Ngang, tâm tình nữ sĩ – khách li hương như chan hòa, như cộng hưởng. Tình yêu thiên nhiên, nỗi nhớ quê nhớ nhà, nỗi buồn cô đơn của li khách đã kết đọng thành vẻ đẹp nhân văn của bài thơ tuyệt bút “Qua Đèo Ngang”.-Với nội dung bài Qua Đèo Ngang các bạn học sinh cùng quý thầy cô cần nắm vững kiến thức về hoàn cảnh sáng tác, giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ Qua Đèo Ngang do Bà Huyện Thanh Quan sáng tác…Trên đây VnDoc đã giới thiệu nội dung bài Lý thuyết Ngữ văn 7 Qua Đèo Ngang. Ngoài ra các bạn có thể tham khảo thêm một số chuyên mục Lý thuyết môn Ngữ Văn 7, Tác giả - Tác phẩm Ngữ văn 7, Soạn bài lớp 7, Văn mẫu lớp 7, Giải Vở bài tập Ngữ Văn 7, Soạn văn 7 siêu ngắn.

bài 6 qua đèo ngang