Thực tế cho thấy, nếu không có sự quan tâm, can thiệp đúng mức của người lớn, của các cơ quan chức năng thì những hậu quả khôn lường như sang chấn tâm lý, trầm cảm, tâm thần phân liệt có thể xảy đến với trẻ. Do chưa chuẩn bị tâm lý sẵn sàng một số trẻ vào lớp 1 có biểu hiện sợ học đường. (Ảnh minh họa)
Khó khăn, rào cản tâm lý thường xảy ra đối với học sinh lớp 12 là các em phải chịu một sức ép lớn, phải thực hiện những công việc căng thẳng, đòi hỏi những nỗ lực, cố gắng nhiều hơn. Thậm chí có em không học được cách thích ứng dẫn đến kết quả học tập bị giảm sút rõ ràng. Các em học sinh lớp 12 gặp khó khăn về cảm xúc trí tuệ ở mức cao nhất.
Đây chỉ trở thành một căn bệnh tâm lý nếu bạn mắc phải những biểu hiện như: Dễ thay đổi bạn bè và người yêu Thường xuyên tiêu tiền hoang phí mà không suy nghĩ Lái xe không cẩn thận Thay đổi tâm trạng thất thường và thường có cảm giác chán nản, mệt mỏi
Tiền đạo Nguyễn Công Phượng đã có những chia sẻ về khoảng thời gian khó khăn của HAGL hiện tại. Thứ bảy, 03:07 15/10/2022. Tuyển dụng Công Phượng gửi tâm thư đến HAGL trong khoảng thời gian khó khăn . 08/09/2022 08:00 (GMT+7) Người chịu trách nhiệm quản lý nội dung
Trung tâm QL Ký túc xá sẻ chia khó khăn với sinh viên nội trú. 06 Th8 2021. Để hỗ trợ sinh viên nội trú phải ở lại Ký túc xá do dịch Covid-19 kéo dài, Trung tâm Quản lý Ký túc xá đã phối hợp với Thành đoàn Hà Nội và Đoàn Thanh niên Trường triển khai chương trình "Hà Nội
Các đặc điểm tâm lý của trẻ em có u000bhoàn cảnh khó khăn5.5. Hoài nghi, thiếu tin tưởng : Trẻ sống trong hoàn cảnh khó khăn thường có đủ lý do để ngờ vực. Những người lớn mà các em thường gặp thường có vẻ xa cách với trẻ và không hiểu được những khó khăn này
Những khó khăn liên quan tới hệ thống quản lý doanh nghiệp. Hệ thống quản lý doanh nghiệp từ lâu được biết tới là hệ thống hỗ trợ các nhà quản trị nắm bắt, kiểm soát được tổng thể tình hình doanh nghiệp. Chính vì vậy, hệ thống này vô cùng quan trọng và tác động trực tiếp tới sự phát triển của
Vay Tiền Trả Góp 24 Tháng. Tâm lý học là một ngành học đang rất hot và có nhiều điều thú vị để chúng ta khai thác. Khó khăn của ngành tâm lý học cũng muôn hình vạn trạng và bạn phải vượt qua rất nhiều thử thách để có thể trở thành một chuyên gia tâm lý tài ba. Tất nhiên, khi nói về những khó khăn của ngành ngành tâm lý không phải để bạn nản chí hoặc hoài nghi về khả năng của bản thân. Điều quan trọng nhất của bài viết này đó là giúp các bạn hình dung rõ hơn về ngành Tâm lý học đồng thời hoàn thiện bản thân mỗi ngày để đương đầu với mọi trở quát về ngành Tâm Lý HọcNhững khó khăn của ngành Tâm Lý HọcTâm lý học có lượng kiến thức lớnKhả năng làm việc hiệu quả với các con sốKhó khăn của ngành tâm lý học – Yêu cầu về khả năng ngôn ngữ, trình bàyNăng khiếu về tiếng Anh để đọc tài liệuThử thách về tính chính xácThái độ lắng nghe, đồng cảmLý thuyết với thực tế không giống nhauKhó khăn của ngành Tâm lý học – Thử thách làm nghềLời kếtKhái quát về ngành Tâm Lý HọcTâm lý học là một ngành khoa học nghiên cứu về hành vi, tư tưởng, cảm xúc của con người. Cụ thể hơn, đây là ngành học chuyên nghiên cứu về biểu hiện hành vi như cảm xúc, ý chí, hành vi của người. Tâm lý học đi sâu khám phá về những bản chất thật bên trong của con người bằng cách đi sâu vào từng ngõ ngách xoay quanh cuộc sống của chủ thể như văn hóa, giáo dục, kinh tế – xã hội…Ngành học này mấy năm trở lại đây đang trở nên vô cùng hót tại các trường Đại học bởi đây là ngành học thú vị và có nhiều cơ hội để phát triển. Mặc dù vậy, ngành Tâm lý học cũng chưa thực sự phổ biến tại Việt Nam. Điều này không khiến nhiều người phải tự đặt ra câu hỏi Ngành tâm lý học có dễ xin việc không và cũng không biết mình sẽ phải đối mặt với những thử thách nào khác hay không. Dưới đây, chúng mình sẽ tổng hợp lại một số khó khăn của ngành Tâm lý học để bạn hiểu rõ hơn. Những khó khăn của ngành Tâm Lý HọcNhững khó khăn của ngành Tâm Lý HọcTâm lý học có lượng kiến thức lớnNếu bạn muốn đạt được thành công trong bất cứ lĩnh vực nào thì cũng cần đầu tư công sức, bổ sung tri thức cho mình. Và ngành tâm lý học cũng vậy thậm chí còn phải học tập, nghiên cứu nhiều hơn. Bởi đây là ngành học có nhiều lý thuyết đặc thù và chuyên sâu về tâm lý của con người. Bạn phải có đủ kiến thức và hiểu biết thì mới có đủ tự tin để giúp đỡ người khác vượt qua những vấn đề về tâm khăn của ngành tâm lý học đó là đòi hỏi bạn phải đọc, nghiên cứu, so sánh để hiểu và nhận dạng các vấn đề tâm lý. Từ đó bạn mới tìm ra được phương pháp phù hợp để tiến hành thực nghiệm hiệu quả. Đặc biệt, nếu bạn theo đuổi chuyên môn Tâm Lý học lâm sàng thì còn phải có kiến thức về y khoa vì môi trường làm việc chủ yếu sẽ là trong các bệnh viện và làm việc với các bác sĩ trị liệu. Khả năng làm việc hiệu quả với các con sốNhiều người nghĩ rằng, ngành tâm lý học thuộc nhóm ngành xã hội vì vậy mà sẽ thoát khỏi các con số. Nhưng suy nghĩ đó là sai lầm nhé vì Tâm lý học cũng cần phải làm thống kê, vẽ biểu đồ, bảng biểu để phân tích vấn đề tâm lý hiệu quả hơn. Điều này có thể sẽ làm một số bạn nản chỉ và không nghĩ rằng mình không còn phù hợp với nghề vì tâm lý e ngại tính toán. Vì vậy, nếu muốn thuận lợi hơn trong quá trình học tập và làm việc thì bạn cần trau dồi thêm kỹ năng này nhé. Tất cả kiến thức sẽ được lấp đầy chỉ cần bạn quyết khăn của ngành tâm lý học – Yêu cầu về khả năng ngôn ngữ, trình bàyKhó khăn của ngành tâm lý học – Yêu cầu về khả năng ngôn ngữ, trình bàySinh viên ngành Tâm lý học thường sẽ phải làm bài tập dưới hình thức viết luận. Các bài luận này có thể dài lên đến hàng trăm trang và có thể phải viết bằng tiếng Anh hoặc ngôn ngữ khác nếu học tập ở nước ngoài. Chính vì vậy, ngành học này đòi hỏi bạn phải có khả năng về ngôn ngữ, văn phong trình bày sao cho logic. Phải viết, trình bày sao cho chuyển tải được những thuật ngữ chuyên ngành, liên quan đến nhiều dạng kiến thức, số liệu, sơ đồ sao cho dễ khiếu về tiếng Anh để đọc tài liệuHiện nay, giáo trình về ngành Tâm lý học cũng đã khá phổ biến thế nhưng nếu bạn muốn tìm hiểu chuyên sâu và đa dạng về một lĩnh vực nào đó thì tài liệu tiếng Việt thôi chưa đủ. Bạn khải tham khảo thêm những nguồn tài liệu ở nước ngoài để hiểu hết bản chất của vấn đề. Bởi, một số cuốn sách sau khi được dịch sang tiếng Việt sẽ không khai thác được hết ý nghĩa của câu nói khiến người học hiểu thách về tính chính xácThử thách về tính chính xácMột trong những khó khăn của ngành tâm lý học nữa đó chính là yêu cầu tính chính xác cao. Trong quá trình nghiên cứu sẽ có nhiều thông tin, lý thuyết và phương pháp thực nghiệm cùng tồn tại với nhau. Và điều quan trọng là bạn phải tìm được phương pháp phù hợp để đem lại hiệu quả cao nhất. Tính chính xác rất quan trọng đối với quá trình nghiên cứu, vì nếu lựa chọn không đúng phương pháp, bạn sẽ làm ảnh hưởng cả tiến trình sau đó và dẫn đến kết quả sai lệch. Điều này có thể để lại những hậu quả nghiêm độ lắng nghe, đồng cảmMột khó khăn của ngành tâm lý học nữa đó chính là bạn phải luôn có thái độ lắng nghe, đồng cảm với người khác. Trước mỗi vấn đề, việc đầu tiên bạn làm không phải là phán xét mà phải đồng cảm, đặt mình vào vị trí của họ để nhận thức vấn đề. Đây cũng chính là một trong những tố chất quan trọng để trở thành chuyên gia tâm lý. Bên cạnh đó, để theo đuổi ngành này, bạn phải dự đoán hành vi chính xác. Bởi mục đích chính của Tâm lý học là dự đoán hành vi và hiểu rõ nguyên nhân của nó. Tuy nhiên, việc dự đoán sẽ rất khó khăn và cần thực nghiệm trên nhiều người. Lý thuyết với thực tế không giống nhauLý thuyết với thực tế không giống nhauTâm lý học là một ngành học rất rộng và kiến thức chuyên sâu cần phải được va chạm thực tế nhiều thì mới có thể quen và thành thạo. Thế nhưng, với những bạn sinh viên thì đa phần chỉ được học lý thuyết trên sách vở. Chính vì vậy, khi đi làm sẽ khó tránh khỏi sự hoang mang, lúng túng khi tiếp xúc với thân chủ. Với một chuyên gia trị liệu, nếu bạn không thể nhận diện chính xác dạng rối loạn tâm lý thì việc tư vấn hay trị liệu sẽ không hiệu quả thậm chí còn làm nghiêm trọng thêm tình trạng của thân khăn của ngành Tâm lý học – Thử thách làm nghềNgành tâm lý học là một ngành khó và để trở thành một chuyên gia trong lĩnh vực tư vấn, trị liệu tâm lý, bạn phải thực sự có đủ kiến thức chuyên môn và quan trọng nhất là phải “yêu nghề”. Bên cạnh đó, để theo đuổi được ngành này, bạn phải có tâm lý vững vàng, thái độ làm việc chuyên nghiệp và cẩn thận. Hiện nay, không ít người tự nhận mình là chuyên gia tâm lý nhưng lại chưa qua trường lớp đào tạo bài bản, họ chỉ lấy danh nghĩa để tự kiếm lời cho mình. Điều này làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến các chuẩn mực đạo đức, ảnh hưởng đến uy tín chung của ngành và đội ngũ các nhà Tâm lý họcLời kếtTrên đây là những khó khăn của ngành Tâm Lý Học mà bạn phải nắm rõ trước khi theo học ngành này. Không chỉ riêng ngành Tâm Lý mà bất cứ ngành học nào cũng sẽ có những khó khăn và thử thách riêng. Tuy nhiên, chỉ cần bạn có nhiệt huyết và đam mê cống hiến chắc chắn bạn sẽ vượt qua được những rào cản đó.
Bài viết gồm 2 phần. Phần 1 trình bày những đặc điểm tâm lý nổi bật ở học sinh THCS. Phần 2 đưa ra những quan điểm của người viết về các tư duy giúp giải quyết khó khăn ở học sinh THCS...Bài viết gồm 2 phần. Phần 1 trình bày những đặc điểm tâm lý nổi bật ở học sinh THCS. Phần 2 đưa ra những quan điểm của người viết về các tư duy giúp giải quyết khó khăn ở học sinh THCS...Lứa tuổi học sinh THCS từ 11 đến 15 tuổi là giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ em sang người lớn. Ở mỗi cá nhân, giai đoạn này được đặc trưng bởi 1 sự phát triển mạnh mẽ về thể chất, sinh lý; 2 những thay đổi hàng loạt trong hoạt động và tương tác xã hội cũng như 3 sự phát triển nhận thức và nhân cách. Mình tin rằng phần lớn độc giả đã đi qua giai đoạn "ngã ba đường" của sự phát triển này, tuy vậy trước khi thảo luận về khó khăn trong học tập ở các em, hãy cùng tổng kết một vài điểm nổi bật ở lứa tuổi học sinh THCS và những ảnh hưởng của nó tới tâm lý học sinhHiện tượng dậy thì chính là nguyên nhân của sự phát triển thể chất và sinh lý mạnh mẽ ở mỗi học sinh. Ngày nay, với điều kiện dinh dưỡng ngày càng đảm bảo đôi khi quá mức, hiện tượng dậy thì diễn ra ngày càng sớm. Đối với trẻ gái, tuổi dậy được tính từ thời điểm xuất hiện kinh nguyệt trung bình khoảng 10-11 tuổi trong khi ở trẻ trai, được tính từ lần xuất tinh đầu tiên thường trong khoảng 11-12 tuổi. Những thay đổi có thể kể đến như1 Chiều cao nhảy vọt, khối lượng cơ và thịt tăng. Các em cao to, khoẻ mạnh hơn tuy nhiên thường chóng mệt và hoạt động không lâu bền như người lớn 2 Hệ xương phát triển mạnh những không đều hệ cơ phát triển chậm hơn làm thiếu niên lúng túng, vụng về trong hoạt động dẫn đến tâm lý thiếu tự tin, không thoải mái 3 Hệ tim mạch cũng phát triển không cân đối thể tích tim tăng nhưng đường kính mạch máu phát triển chậm gây rối loạn tuần hoàn máu làm thiếu niên thường có cảm giác mệt mỏi, nhức đầu, dễ bực tức 4 Quá trình hưng phấn chiếm ưu thế nên thiếu niên không làm chủ được cảm xúc, khó kiềm chế xúc động, dễ mất bình tĩnh,... 5 Sự mất cân đối giữa hệ thống tín hiệu thứ nhất các giác quan và hệ thống tín hiệu thứu hai ngôn ngữ khiến thiếu niên nói chậm, khó trình bày và lúng túng, nhát gừng khi trả lời 6 Và nhiều biến đổi khác... Kết thúc đặc trưng đầu tiên, ta nhận thấy sự phổng phao của tuổi dậy có vẻ đã gia tăng "cảm giác người lớn" ở học sinh nhưng ở mặt khác nó cũng mang đến cho các em không ít rắc rối. Hãy cùng chuyển sang đặc trưng thứ haiCó nhiều điều để nói về hoạt động và tương tác xã hội ở học sinh THCS. Chúng ta sẽ xem xét sự ảnh hưởng của các mối quan hệ giao tiếp đến tâm lý các em trong giai đoạn nàyCác em xuất hiện mong muốn cải tổ mối quan hệ với người lớn, bao gồm hạn chế quyền hạn của người lớn và mở rộng quyền hạn của chính mình. Các em khao khát sự bình đẳng, không thích sự can thiệp và giám sát chặt chẽ như trước đây lứa tuổi tiểu học. Từ đó nảy sinh những phản ứng như chống cự, không phục tùng, kịch hoá tác động của người lớn Quá trình giao tiếp này thường diễn ra xung đột khi nhận thức và hành xử của người lớn không theo kịp sự phát triển nhanh nhưng bất ổn về thể chất và tâm lý của các em. Người lớn không chịu thay đổi thái độ với thiếu niên cho rằng các em còn phụ thuộc và cần can thiệp và sự độc lập hoặc không thể từ bỏ thói quen chăm sóc, điều khiển tỉ mỉ sinh hoạt của các em. Bản thân các em cũng tồn tại mâu thuẫn giữa nhu cầu thoát ly, muốn độc lập trong khi bản thân lại chưa có nhiều kinh nghiệm ứng xử, giải quyết vấn đề và vẫn có nhu cầu được người lớn chia sẻ, định hướngPhương án giải quyết mâu thuẫn trong giao tiếp của học sinh THCS với người lớn thường được đề xuất là xây dựng một mối quan hệ bạn bè, hợp tác trên cơ sở tôn trọng, tin tưởng, giúp đỡ lẫn nhau. Với các em, bạn bè dần trở thành một tôn giáo duy nhất được tin tưởng hơn cả gia đình và đôi khi, cách duy nhất để chúng ta có thể tác động đến các em là tham gia cuộc chơi ấyCác em khao khát được hoạt động chung, được sống tập thể, có đồng chí và bạn bè thân thiết tin cậy. Cùng với việc được thông tin, học hỏi, tâm sự và thể hiện; thông qua bạn bè, học sinh THCS được thoả mãn nhu cầu bình đẳng và độc lập thứ không được đáp ứng trong quá trình giao tiếp với người lớn. Nhờ giao tiếp với bạn bè, các em cũng phát triển các kĩ năng xã hội, khả năng lý luận, diễn tả cảm xúc cũng như khẳng định cá tính, xu hướng và trí tuệ của mìnhVới học sinh giai đoạn này, sự bất hoà với bạn bè và thiếu thốn tình bạn thân được xem là bi kịch cá nhân. Sự phê bình thẳng thắn của tập thể, bạn bè là tình huống khó chịu nhất khi chịu và bị bạn bè tẩy chay là hình phạt nặng nề nhấtTrong mối quan hệ này, ta còn thấy được hệ thống yêu cầu cao và máy móc của học sinh THCS. Những phẩm chất tình bạn có thể kể đến như quan hệ bình đẳng, giúp đỡ lẫn nhau, lòng trung thành, tính trung thực. Các em kết bạn với những học sinh được tôn trọng, có uy tín hay có tiến bộ rõ rệt về mặt nào đó. Các em quan niệm bạn bè thì phải hiểu nhau, đồng cảm, cởi mở, giữ bí mật với lý tưởng “sống chết có nhau”, đồng điệu về giá trị cá nhân và quan điểm sống. Tất cả mối quan hệ bạn bè vì thế được xây dựng trên cơ sở một "bộ luật tình bạn" nào đóMột điểm cần lưu ý thêm là sắc thái giới tính đã xuất hiện trong quan hệ với bạn ở học sinh. Nhìn chung, các em tò mò và chú ý nhiều hơn đến bạn khác giới. Các em nữ thường tỏ vẻ thờ ơ, lãnh đạm giả tạo khinh bỉ còn các em nam thể hiện công khai, tản mạn trẻ con xô đẩy, trêu chọc và có khi thô bạo giật tóc, giấu cặp. Những xúc cảm trong sáng khiến các em quan tâm nhiều hơn đến bề ngoài của mình, cũng là động lực thúc đẩy tự hoàn thiện và tu dưỡng bản thân. Trong giai đoạn này, một số em bị cuốn hút và “yêu đương”, đôi khi không hiểu rõ tình cảm của mình và vì thế ảnh hưởng nhất định đến kết quả học cấp THCS, chúng ta chứng kiến sự phát triển cao hơn về nhận thức cũng như nhân cách của học sinh. Đây là đặc trưng cuối cùng về lứa tuổi trước khi chúng ta chuyển sang phần II. Các em đã có khả năng phân tích, tổng hợp phức tạp thông quan việc trí giác các sự vật. Tuy nhiên hạn chế với nhiều em là quá trình tri giác còn thiếu kiên trì, vội vàng hấp tấp dãn đến tính tổ chức và hệ thống của tri giác còn yếu. Khả năng tư duy ở các em đã phát triển hơn do nội dung phong phú, đa dạng, phức tạp của môn học. Các em muốn độc lập lĩnh hội tri thức, giải quyết bài tập theo những quan điểm riêng, không thích trả lời máy móc như nhi đồng. Các em cũng không dễ tin và chấp nhận ý kiến của người khác, luôn muốn tranh luận, chứng minh để xác thực vấn đề một cách rõ chú ý của học sinh THCS chưa bền vững, các em dễ bị phân tâm với những ấn tượng và rung động mạnh mẽ. Đôi khi các em chỉ nắm dấu hiệu bề ngoài chứ không phải bản chất, đối với một số hoạt động nhận thức chưa trở thành hoạt động độc lập, còn thiếu kiên trì, thích học nhanh nhưng ngại suy nghĩ. Khả năng ghi nhớ của các em trong giai đoạn này có sự gia tăng về tốc độ và khối lượng, dần có tính chủ định và có tổ chức. Về ngôn ngữ, một số em thích dùng từ cầu kỳ, bóng bẩy nhưng sáo rỗng. Các em cũng cần rèn luyện thêm để tăng khả năng suy nghĩ có tính độc lập và phê phánĐiểm đặc biệt trong nhân cách học sinh THCS là sự phát triển mạnh mẽ của tự ý thức. Các em quan tâm nhiều hơn đến nội tâm, nảy sinh nhu cầu tự đánh giá, so sánh mình với người khác. Tuy nhiên khả năng đánh giá của thiếu niên thường chưa tương xứng với nhu cầu đó, nhìn chung các em tự thấy chưa hài lòng về chính mình. Các em đã biết tự giáo dục bản thân thông qua việc thúc đẩy bản thân thực hiện những nhiệm vụ, kế hoạch tự đề ra trong việc rèn luyện và tu với tự đánh giá, các em cũng rất nhạy cảm khi quan sát và đánh giá người xung quanh, đặc biệt với cha mẹ, giáo viên. Những đánh giá này thường đầy đủ và đúng đắn hơn so với tự đánh giá. Thông qua đó, các em tự tìm ra một hình mẫu lí tưởng cho riêng mình để phấn đấu, noi theo. Nhưng, hạn chế của giai đoạn này là thiếu niên chưa thực sự biết cách rèn luyện để có được hình mẫu nhân cách đó do chưa phân tích được mặt phức tạp của đời sống và các quan hệ trong xã hội.Chúng ta đã biết thể chất, sinh lý, tương tác xã hội, nhận thức và nhân cách đều ảnh hưởng không nhỏ tâm lý học sinh THCS, theo một cách nào đó chúng tạo nên những cuộc khủng khoảng trong bản thân các em. Cùng với những mâu thuẫn không ngừng ấy, học sinh THCS tham gia học tập như một hoạt động chủ đạo và cũng gặp phải không ít khó khănỞ thời kỳ đầu, các em hầu như chưa có kỹ năng cơ bản để tổ chức tự học học sinh chỉ học khi có bài tập và nhiệm vụ được giao. Do hứng thú, sở thích cũng như nội dung và phương pháp giảng dạy khác nhau, các em hình thành thái độ phân hoá như yêu thích, nhàm chán,... đối với từng môn học. Khó khăn đầu tiên đối với học sinh THCS là không biết phương pháp học tập thế nào cho hiệu khi động cơ học tập còn phức tạp đến từ nhu cầu tìm hiểu tri thức, từ mong muốn phục vụ xã hội hay từ động cơ riêng liên quan đến uy tín, tự trọng với bạn bè hay mong muốn tiến bộ với bản thân, cha mẹ, thầy cô; dự định nghề nghiệp;... Hầu hết động cơ này chưa đủ bền vững do những mâu thuẫn trong tâm lý - đã chỉ ra ở phần I, các em gặp khó khăn thứ hai liên quan đến vượt qua trì hoãn, lười biếng và các cám dỗ như trò chơi điện tử, xem tivi,.. để học tập một cách chăm phải nói thêm rằng, khi không làm chủ những kĩ năng xã hội đặc biệt trong giao tiếp với thầy cô và bạn cùng lớp hay khả năng lí luận dựa trên sự phát triển nhận thức, các em thường cảm thấy tự ti và thấp kém. Cùng với việc khó khăn trong giải toả các áp lực từ gia đình, thầy cô, bạn bè về thành tích học tập, các em đôi khi từ bỏ việc tự giáo dục để hoàn thiện chính mình do tâm lý bi quan sau những thất bại và tư duy cố định về khả năng của bản thân.Tóm lại thì, chúng ta có thể làm gì để giúp đỡ các em?Một tư duy thông thường về khó khăn sẽ trải qua lần lượt những bước bao gồm nhận thức - phân tích - tìm giải pháp - tiến hành. Tuy nhiên, đối với các học sinh THCS, rất khó để chúng ta có thể dẫn dắt các em tự mình trải qua từng bước. Bởi vậy, sự giúp đỡ, đồng hành của người lớn trong quá trình này là vô cùng quan trọng. Trong bài viết này, mình đề xuất 3 tư duy cần có trong nhận thức về 1 thất bại, 2 khác biệt và 3 khả năng. Việc nắm được các tư duy này theo mình sẽ giúp học sinh THCS giải quyết hầu hết các khó khăn trong học tập. Hãy cùng bắt đầu nhé!Tư duy 1 Thất bại không xấu - che giấu không khônX là một học sinh lớp 7. Với X, thất bại là thất bại. X rất khó để nhìn vào thất bại mà học hỏi "thất bại là mẹ thành công" vì với em đây là một nỗi đau X bị chỉ trích và không có được sự cảm thông bởi bạn bè, cha mẹ và những người em tin tưởng. Với những suy nghĩ như vậy, X sẽ hạn chế tối đa việc thực hiện lại hành động đó trong tương lai, một nỗi sợ hình thành và một cơ hội học tập biến nhưng em không được học điều này. Phần lớn học sinh không có khả năng học hỏi nhiều từ sai lầm của bản thân. Nếu là một người lớn trong trường hợp của X, điều chúng ta nên làm là cùng em trải qua khó khăn, phân tích những sai lầm để tìm ra bài học. Nói như Thomas Edison khi ông thất bại trong việc tìm vật liệu làm ra sợi dây tóc bóng đèn "Tôi không thất bại. Tôi chỉ là đã tìm ra cách không hoạt động". Học sinh THCS cần hiểu rằng điều quan trọng đối với mỗi thất bại là học hỏi, tìm ra "cách không hoạt động" trong đó. Vì thế, che-giấu-không-khôn và sẽ là có nhiều lợi ích hơn khi chia sẻ trải nghiệm đó với "người có kinh nghiệm sửa chữa".Trong tư duy này, người lớn giáo viên cần trở thành "người có kinh nghiệm sửa chữa" thông qua việc không ngừng rút kinh nghiệm sau mỗi sai lầm của các em trong cuộc sống học tập. Cùng với việc đưa ra giải pháp phù hợp, sự tự tin khi đối diện thất bại của các em chắc chắn sẽ không ngừng tăng duy 2 Khác biệt không sai - ai chẳng giống mìnhTrong quá trình học tập xảy ra một trường hợp như này, nhiều học sinh có những ý tưởng, sáng kiến rất mới lạ nhưng do không thuận tiện với bài học, đôi khi các em bị gạt đi, hoặc thậm chí bị cho là kém cỏi. Chúng ta đều hiểu rằng, luôn tồn tại sự khác biệt giữa các học sinh. Vậy nên với các vấn đề khác nhau, rào cản và cách tiếp cận của từng học sinh sẽ khác nhau. Khác-biệt-không-sai. Nhưng khi sự khác biệt ấy không được khuyến khích một cách hợp lý, với lý tưởng tình bạn - tập thể, rất nhiều học sinh sẽ từ bỏ sự khác biệt của chính mình. Và khi những khó khăn mang màu sắc cá nhân dần bị loại đi, không được xem trọng, chẳng có gì bất ngờ khi các em trở nên ngày càng tự ti, mang nhiều cảm giác thấp kém. Các em cần hiểu rằng ai-chẳng-giống-mình, bất kì ai đều có thể mang những suy nghĩ khác lạ so với phần còn lại tập thể. Người lớn cần phải giúp các em tôn trọng sự khác biệt ở người khác, khi học được điều này, bản thân mỗi học sinh cũng sẽ tự tin hơn trong việc bày tỏ quan điểm, ý kiến cá nhân. Một lưu ý nhỏ là tư duy này không khuyến khích lối nghĩ vị kỉ, coi trọng bản thân, mặc kệ người khác. Khác biệt phải được xây dựng trên cơ sở tốt lành, không xâm phạm lợi ích của bất kì một cá nhân duy 3 Mọi thứ đều đổi - tốt là tiến lênHọc sinh nghĩ gì về khả năng của bản thân? Có 2 quan điểm xoay quanh điều này. Tư duy cố định cho rằng khả năng học tập mỗi người là có hạn, khi gặp một vấn đề nào đó, các em thường né tránh và tìm cách thoát khỏi nó vì sợ hãi thất bại . Trong suy nghĩ các em, các bạn giỏi thì luôn giỏi và kém vì không thể giỏi. Mình được nghe tâm sự của một vài bạn có học lực kém trên trường, quả thực các bạn ấy đã từng tin rằng bản thân không có năng lực để học tập tốt, do vậy tự đánh mất động lực học tập của bản thân. Vẫn viết học tốt còn do nhiều yếu tố nhưng tư duy này rõ ràng đã kìm hãm sự phát triển của học lại với tư duy cố định là tư duy phát triển. Quan điểm này tin rằng khả năng học tập có thể thay đổi cùng với nỗ lực của mỗi cá nhân. Các nghiên cứu chỉ ra rằng khi trẻ được đọc và học về bộ não, cách nó thay đổi và phát triển khi đối mặt thách thức. Các em trở nên kiên trì hơn trước thất bại. Người lớn cần giúp các em hiểu rằng mọi-thứ-đều-đổi, từ đó không ngừng khuyến khích tư duy phát triển này ở các em trong mọi tình huống của học tập và đời sống. Mình rất thích một "quy định" trong giờ học Lý hồi cấp 3, thay vì trả lời "em không biết", học sinh chỉ được quyền nói "em chưa biết" - một tinh thần học tập thật tuyệt chỉ về khả năng thay đổi, người lớn cần vạch ra cho các em chiều hướng thay đổi. Tốt-là-tiến-lên tức là cần không ngừng rèn luyện để cải thiện, phát triển năng lực bản thân. Bữa ăn hôm nay Z kho thịt rất ngon, đến một hôm nào đó mẹ Z có thể hỏi "Z thử vừa kho thịt vừa luộc rau mà vẫn ngon như thế, được không con?". Người lớn trong tư duy này cần tìm ra cơ hội phát triển của các em trong từng tình huống, từ đó khuyến khích sự rèn luyện, học tập và tu dưỡng theo hướng đó để không ngừng tiến lên. Một lưu ý nhỏ khi các em chưa thực hiện được "cải tiến", người lớn cần kiễn nhẫn trong việc tiếp thêm hy vọng, liên tục động viên các em. Sức mạnh của niềm tin chẳng phải rất lớn sao ^^ Tư duy 1 Thất bại không xấu - che giấu không khôn Tư duy 2 Khác biệt không sai - ai chẳng giống mình Tư duy 3 Mọi thứ đều đổi - tốt là tiến lên Ba tư duy trên về giải quyết khó khăn thực chất không có gì cao siêu. Tuy vậy, không dễ dàng để người lớn đồng hành và giúp các em hiểu được nó. Để làm được tất cả điều đó, trước tiên chúng ta cần có khả giao tiếp một cách cởi mở, gần gũi với các em. Người lớn cần học cách thấu hiểu các em. Và nhiều khi, những cuộc hội thoại ấm áp chỉ đòi hỏi một quãng thời gian rảnh rất nhỏ sau giờ ăn tối cùng một băn khoăn khao khát biết từ đáy lòng Ngày hôm nay của con thế nào?Không ai có thể chống lại một người thật lòng yêu thương mình! Tham khảo Giáo trình Tâm lí học giáo dục - NXB Đại học Sư phạm2
Giai đoạn Tiểu học là giai đoạn vô cùng quan trọng đối với phát triển và hình thành một số tâm lý sơ khai của các em học sinh. Chính vì thế, ở thời điểm này các em sẽ gặp phải không ít những khó khăn tâm lý. Vậy những khó khăn đó là gì và biện pháp khắc phục ra sao? Mời các bạn cùng chúng tôi tìm hiểu bài viết dưới đây nhé. Nhận thức mới mẻ, xa lạ với mọi thứ xung quanh Tâm lý này được biểu hiện rõ rệt nhất ở các em lớp 1 vì đây là lần đầu tiên chúng tiếp xúc với một không gian sinh hoạt hoàn toàn mới nhưng lại không có sự kề cạnh của bố mẹ. Nhận thức mới mẻ, xa lạ với mọi thứ xung quanh Những sự va chạm, những món đồ dùng học tập, bạn bè mới, thấy cô mới khiến chúng cảm giác lạ lẩm. Đối với trẻ có tính cách linh hoạt và bản lĩnh mạnh, chúng sẽ có tâm lý muốn tìm hiểu và muốn biết nhiều thứ xung quanh. Bên cạnh đó lại có những em học sinh có tâm lý nhạy cảm, chúng sẽ có thái độ từ chối tiếp xúc và ghì chặt lấy người thân không chịu đến trường để học tập. Cách khắc phục Giới thiệu mọi thứ để các em học sinh có thể làm quen và thích nghi . Xây dựng sự tương tác và nêu ra các lợi ích từ việc đi học để thu hút các em đến trường. Khả năng tập trung lắng nghe thấp Ở độ tuổi nhạy cảm này các em chưa thể hoàn toàn tập trung vào việc học và nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của giáo dục nên thường bị sao lãng trong các buổi học và làm việc riêng khi đang được các giáo viên đứng lớp giảng bài. Hậu quả của việc này dẫn đến tình trạng các em bị mất kiến thức nền tảng và không kích ứng đước khả năng tư duy của trẻ. Khả năng tập trung lắng nghe thấp Cách khắc phục Khi phát hiện trẻ có dấu hiệu sao lãng bài vở thì giáo viên nên kịp thời nhắc nhở nghiêm khắc để hình thành thói quen và quy tắc tiết học yêu cầu các em phải tuân thủ. Nếu trường hợp giáo viên đang giảng bài mà các em quay đi quay lại thì giáo viên cần đưa ngay tên học sinh đó vào lời giảng của mình, cho một ví dụ thu hút hoặc có sự hài hước kéo sự quan tâm và chú ý của bé quay lại bài học. Viết chữ sai chính tả, viết ngược Viết ngược thường xuất hiện đa phần ở các học sinh lớp 1 việc làm quen với chữ viết với các em rất khó khăn bởi đôi tay vụng về, con chữ còn nguệch ngoạc. Thực tế chúng ta có thể hiểu rằng các em lần đầu tiên viết nên không biết được cấu tạo của nét chữ, độ cao, đồ rộng, khoảng cách giữa các chữ viết nên việc dẫn đến hiện tượng viết chữ ngược là rất bình thường. Viết chữ sai chính tả, viết ngược Viết sai chính tả bắt nguộc từ việc các em chưa thật sự nắm được sự liên kết giữa các thanh âm hoặc bị nhầm lẫn giữa các âm tiết có cách đọc gần giống nhau. Cách khắc phục Thường xuyên cho trẻ tập luyện và khuyến khích trẻ nói lên những khó khăn gặp phải khi viết sai. Đọc và chép lại các chữ bị sai chính tả là một trong những cách giúp em ghi nhớ chữ viết lâu hơn. Động viên khen thưởng khi bé khắc phục được lỗi sai và có thành tích tiến bộ. Luôn có cảm giác buồn ngủ Ở độ tuổi này các em vẫn còn chưa hình thành được nề nếp sống chủ yếu là sinh hoạt theo bản năng, ăn ngủ là chuyện thường tình bởi thế nên nhiều em sáng ra đến trường hai mắt cứ lờ đờ và khi vào tiết học thì ngủ sâu trên bàn học. Điều này khiến cho chất lượng của bài giảng bị giảm sút và khả năng tiếp thu tri thức kém. Cách khắc phục Luôn có cảm giác buồn ngủ trong giờ học Khuyến khích các em đi ngủ đúng giờ. Nêu ra những tác hại nếu như các em ngủ tại lớp. Giáo viên nên nhắc nhỡ các em với tâm lý và thái độ là chia sẽ, gần gũi, không được dùng bạo lực hoặc các hành vi răn đe khiến tâm lý trẻ bị kích động và sợ phải đến lớp. Thường xuyên bị mất đồ dùng học tập Có rất nhiều vấn đề bé có thể gặp phải như chưa thực sự biết tuân thủ các quy định của trường lớp, khó tập trung hoàn toàn trong tiết học, chưa thích ứng được với môi trường mới và bên cạnh đó một số trẻ sẽ gặp phải tình huống là thường xuyên thất lạc đồ dùng học tập như bút, thước, cục tẩy… Cách khắc phục Đánh dấu tên vào đồ dùng học tập và dặn dò các em lưu ý các vật dụng có tên mình. Phụ huynh nên chuẩn bị dụng cụ học tập cho bé trước khi đến lớp, sắp xếp chúng gọn gàng vào hộp bút hoặc ngăn cặp. Thường xuyên bị mất đồ dùng học tập Dặn dò các bé bảo vệ tài sản của mình và khen thưởng khi bé không làm thất lạc đồ. Liệt kê danh sách các món đồ phải mang đến trường hình thành cho trẻ thói quen ý thức tự giữ gìn và bảo quản chúng mỗi ngày. Sợ hãi và ngại giao tiếp Đây là tâm lý chung của các em bởi việc hình thành tạo lập các mối quan hệ mới không phải là người thân của mình là một điều vô cùng khó khăn, các bé thường lo sợ, thậm chí thỉnh thoảng hay khóc và đòi về nhà với bố mẹ. Cách khắc phục Giúp trẻ liên kế với bạn bè cùng lớp và tổ chức các trò chơi tập thể để các học sinh vui chơi với nhau. Trò chuyện, động viên và khuyến khích các em hoạt động vui chơi lành mạnh. Bên cạnh những khó khăn được nêu trên thì còn một số các khó khăn khác nảy sinh trong quá trình học tập hoặc trong quan hệ giữa thầy cô và bạn bè mà các em vẫn thường hay mắc phải. Hi vọng bài viết trên phần nào cũng đã giúp các bạn hình dung ra được những khó khăn cơ bản mà chúng ta thường hay bắt gặp ở lứa tuổi Tiểu học. Ngoài ra các bạn có thể tham khảo thêm một số phương pháp dạy học tích cực để bổ trợ cho công tác giảng dạy của mình trở nên hiệu quả hơn nhé.
Tìm hiểu khó khăn tâm lý của học sinh đầu lớp 1 trường TH Ngô QuyềnTP Kon Tum từ đó đề xuất phương pháp dạy học phù Quan niệm về học sinh đầu lớp luận án tiến sĩ “hình thành kỹ năng đọc và viết tiếng Việt cho học sinhđầu lớp 1” của tác giả Dương Thị Diệu Hoa, tác giả có nhấn mạnh “có thể hình thànhkỹ năng đọc, viết tiếng Việt cho học sinh đầu lớp 1 trong khoảng thời gian 12 tuần +1 thực học tính từ ngày khai giảng”. Cụ thể, ở nội dung của chương trình sau 12 bàihọc tương ứng với 12 tuần có bài kiểm tra chất lượng học phần I. Nhấn mạnh hơnnữa đến độ tuổi của HS đầu lớp 1, ở phần Kết quả thực nghiệm thăm dò – phần Mụcđích, tác giả Dương Thị Diệu Hoa viết “để đảm bảo độ “an toàn” của việc nghiên cứu,chúng tôi kéo dài thời hạn của độ tuổi đầu lớp 1. Trong đó chia làm 2 thời kỳ Nhữngtháng trước tuổi đi học cuối lớp mẫu giáo lớn trong thời gian hè chuẩn bị vào lớp 1và thời gian đầu lớp 1 khoảng 3 tháng đầu của năm học tính từ ngày khai giảng”[28ª, trang 100].Như vậy qua luận án của tác giả Dương Thị Diệu Hoa, tác giả quan niệm vềhọc sinh lớp 1 là khoảng thời gian tính từ 3 tháng tính từ ngày khai giảng cho đến khikiểm tra chất lượng học phần I. Ở luận án này, trên cơ sở tham khảo quan niệm của tácgiả Dương Thị Diệu Hoa và căn cứ vào Hướng dẫn thực hiện chương trình các mônhọc lớp 1 do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành [3, 5-26] để quan niệm về học sinh đầulớp 1. Theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, chương trình học các môn của HSlớp 1 diễn ra trong 35 tuần trong đó có 4 lần kiểm tra định kỳLần 1 vào tuần 10 Kiểm tra giữa kỳ ILần 2 vào tuần 18 Kiểm tra học kỳ ILần 3 vào tuần 26 Kiểm tra giữa học kỳ IILần 4 vào tuần 35 Kiểm tra học kỳ cứ vào phân phối chương trình như trên, khoảng thời gian 3 tháng đầu tính từngày khai giảng 5/9 đến khoảng 5/11 là mốc đầu lớp Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh đầu lớp nhà tâm sinh lý cho rằng, thời kỳ trẻ 6 tuổi đến trường là thời kỳ thuận lợinhất cho việc phát triển trí tuệ. Ở giai đoạn này, trẻ đã có những tiền đề cần thiết sựchín muồi đến trường về các mặt tâm sinh lý, nhận thức, trí tuệ, ngôn ngữ và tâmthế,... để có thể thích nghi bước đầu tiên với điều kiện học tập ở lớp mặt chú ý của trẻ 6 tuổi chưa đạt đến trình độ bền vững và thường không cóchủ định, dễ bị phân tán. Khối lượng chú ý còn hạn chế, trẻ chỉ có thể bao quát được1-2 đối tượng cùng một lúc, trạng thái chú ý này biểu hiện rất rõ ở bề ngoài của trẻqua tư thế, cử chỉ, ....Về ghi nhớ trẻ 6 tuổi ghi nhớ máy móc rất tốt. Ghi nhớ có chủ định của trẻ đãphát triển nhưng ghi nhớ máy móc vẫn chiếm ưu với sự phát triển trí nhớ, trí tưởng tượng của trẻ 6 tuổi cũng phát triểnmạnh và có sắc thái mới so với trí tưởng tượng của trẻ em 4-5 tuổi. Trên cơ sở vốnkinh nghiệm tích lũy được, trí tưởng tượng của trẻ 6 tuổi trở nên hiện thực hơn, cótính sáng tạo GVHD Võ Đại Nam Anh* SVTH Ngô Thị Ngọc BíchNguyễn Thị Ngọc Ánh B Tìm hiểu khó khăn tâm lý của học sinh đầu lớp 1 trường TH Ngô QuyềnTP Kon Tum từ đó đề xuất phương pháp dạy học phù hợpTư duy của trẻ 6 tuổi mang nặng màu sắc cảm tính, kinh nghiệm chủ nghĩa màđặc trương của nó là kiểu tư duy chủ quan – hình ảnh tương ứng với cuộc sống vàhoạt động của trẻ 5-6 tuổi. Đó là kiểu tư duy hình thành trong cuộc sống, trong hoạtđộng vui chơi của các em, tạo tiền đề cho việc hình thành tư duy kiểu mới – tu duytrìu ngữ của trẻ 6 tuổi đã phát triển khá tốt, các em biết sử dụng đúng nhữngcâu đơn giản để giao tiếp với bạn và người lớn. Điều cần chú ý là ngôn ngữ tự kỉ củatrẻ em 6 tuổi, đó là ngôn ngữ hướng vào chính bản thân của đứa trẻ, ít phục vụ choviệc giao tiếp, nhưng là phương tiện tư duy của các trẻ phương diện tình cảm HS lớp 1 vẫn phản ứng mãnh liệt đối với những hiệntượng riêng lẻ làm trẻ bực mình. Tuy nhiên, trẻ bắt đầu kiềm chế cảm xúc của mìnhhơn, nhưng kiềm chế thái độ không bằng lòng, sự bực tức, tính tỵ nạnh khi ở trongtập thể lớp. HS lớp 1 còn “là người theo chủ nghĩa cực đoan nhất”. sở phát triểnnhững chức năng tâm lý và trí tuệ, nhân cách của trẻ cũng được phát triển. Trẻ em 6tuổi có sự phát triển bình thường về mặt sinh lý và tâm lý đều có thể đến trường vàđáp ứng yêu cầu của hoạt động học tập cũng như sinh hoạt trong nhà trường Đặc diểm hoạt động học tập của học sinh đầu lớp 1Sự hình thành những đặc điểm, cấu trúc và hoạt động học tập ở học sinh tiểuhọc là biệt so với trẻ mẫu tuổi học, sự lĩnh hội tri thức, kỹ năng và kỹ xảo của trẻ em diễn ra dướicác hình thức giao tiếp với người lớn, trực tiếp quan hệ với đồ vật thông qua các tròchơi, dưới các hình thức này, sự lĩnh hội biểu hiện như là những sản phẩm phụ củacác hoạt động khác, với tư cách là những điều kiện, phương tiện cần có của tình huống học tập là gì? Tình huống học tập là những hoàn cảnh mà giáoviên đặt ra đòi hỏi học sinh đứng trước nhũng hoàn cảnh đó cần phải tìm ra phươngthúc chung để giải quyết. Thông qua việc giải quyết nó, học sinh sẽ lĩnh hội được mộtphương thức hành động mới hoặc vận dụng phương thức hành động chung đã có vàoviệc giải quyết những vấn đề cụ thể có cùng bản giải quyết các tình huống học tập của trẻ được tiến hành từ những hànhđộng thuộc kiể khác nhau. Trong những hành động này, hành động học tập giữ vai tròchủ đạo. Nhờ có hoạt động học tập mà học sinh có thể tái tạo, lĩnh hội hoặc tìm ranhững phương thức chung để giải quyết tình hình thành hoạt động học tập của trẻ lớp 1 cần chú ý đến vấn đề sau- Trước hết, toàn bộ quá trình dạy học phải được xây dưng trên cơ sở làm cho trẻ cónhững biểu tượng đầy đủ về các nhân tố chủ yếu của hoạt động học tập hành độngmẫu và lôi cuốn các em tích cực thực hiện các hành động này. Cần vạch ra những chitiết, những tiền đề của tình huống học tập và chỉ cho tre một cách rõ ràng, đầy đủ vềcác trình tự của các cử động, thao tác của mỗi hành động, ứng xử và logic của mỗihành động, đặc biệt là hành động vật GVHD Võ Đại Nam Anh* SVTH Ngô Thị Ngọc BíchNguyễn Thị Ngọc Ánh B Tìm hiểu khó khăn tâm lý của học sinh đầu lớp 1 trường TH Ngô QuyềnTP Kon Tum từ đó đề xuất phương pháp dạy học phù hợp- Cần có sự chỉ bảo trực tiếp, sự kiểm tra và đánh giá đúng và chi tiết hành động, ứngxử của trẻ. Dần dần hình thành ở trẻ khả năng tự kiểm tra, đánh giá và tự điều chỉnhhành vi bằng cách đối chiếu hành vi ứng xử, hành động của bản thân trẻ với hành độngmẫu của giáo Khơi dậy ở trẻ nhu cầu, hứng thú với nội dung bên trong của các môn học, biếnthái độ tích, trừu tượng đối với nhận thức nói chung thành thái độ với tùng môn học thể nói rằng thông qua hoạt động học tập – hoạt động chủ đạo của học sinhlớp 1, là cơ sở cho sự phát triển tâm lý của các em. Việc tuân thủ thực hiện những yêucầu của hoạt động đòi hỏi ở trẻ những cấu tạo tâm lý mới mà trẻ chưa có, đồng thờinhững cấu tạo tâm lý này lại được hình thành trong chính quá trình học tập của cấu tạo tâm lý mới ở học sinh lớp 1 được hình thành trong quá trình họctập bao gồm Những chuẩn mực và nguyên tắc hành vi, tính chủ định, bình diện bêntrong của hành động và sự phản tỉnh. Nhờ có những cấu tạo tâm lý mới hình thànhtrong quá trình hoạt động học, đảm bảo cho trẻ hoạt động học tập ở lớp 1 và nhữngnăm sau lại, hoạt động học tập ở lớp 1 có một số đặc điểm cơ bản sau đây- Hoạt động học trở thành hoạt động chủ đạo của trẻ học lớp 1. Trong giai đoạnphát triển tâm lý của mình, trẻ có một hoạt động thể hiện quan hệ nổi bật, chiếm hữuưu thế giữa các em với một đối tượng trong hiện thực. Là hoạt động lần đầu tiên xuấthiện nhưng đóng vai trò quyết định sự hình thành những cấu tạo tâm lý mới cho trẻ vàtạo điều kiện cho sự phát triển trong những giai đoạn tiếp theoVào lớp 1, trẻ bắt đầu thực hiện “bước quá độ” vĩ đại nhất trong toàn bộ cuộcđời. Nó chuyển từ hoạt động vui chơi - hoạt dộng chủ đạo trong giai đoạn trước dã lỗthời sang hoạt động chủ đạo mới – hoạt động học với đối tượng mới xuất hiện lần đầutiên trong đời. Sự chuyển đổi hoạt động chủ đạo này kéo theo một loạt những thay dổikhác trong cuộc sống, đặt trẻ vào một tình huống mới chưa từng gặp, dễ gây ra cuộc“khủng hoảng” trong sự phát triển hiện tại và ảnh hưởng lâu dài với Hoạt động học có đối tượng nội dung là tri thức khoa học được phán ánhthông qua các môn học. Trước tuổi học, ở gia đình và lớp mẫu giáo, trẻ lĩnh hội nhữngtri thức kinh nghiệm thông qua các trò chơi. Còn với hoạt động học tập, nội dung lĩnhhội của trẻ lớp 1 là các khái niệm khoa học, phổ thông, chính xác và hiện đại được tổchức dưới hình thức các môn học. Để tiến hành có hiệu quả quan hệ với đối tượng này,trẻ buộc phải có những phẩm chất, năng lực và hành vi mới mà trước đó trẻ chưa Hoạt động học còn hướng vào lĩnh hội cách học. Với trẻ lớp 1, hoạt động họcđược tiến hành theo một quy trình mới. Để thực hiện hoạt động này có hiêu quả và đểhình thành được những phương tiện học tập, một trong những nhiệm vụ quan trọngcủa hoạt động học ở trẻ lớp 1 là phải hình thành chính hoạt động học mà bản chất làlĩnh hội được cách học, cách làm việc trí óc như một phương thức đặc điểm cơ bản nêu trên của hoạt động học đòi hỏi trẻ phải có những thayđổi căn bản về cách thức sống, cách thức hoạt động để có thể đáp ứng được những yêu11* GVHD Võ Đại Nam Anh* SVTH Ngô Thị Ngọc BíchNguyễn Thị Ngọc Ánh B Tìm hiểu khó khăn tâm lý của học sinh đầu lớp 1 trường TH Ngô QuyềnTP Kon Tum từ đó đề xuất phương pháp dạy học phù hợpcầu của việc học. Tuy nhiên, không phải trẻ lớp 1 nào cũng có thể đáp ứng đượcnhững yêu cầu của hoạt động học tập ngay từ những ngày đầu đi học, chính vì vậy đãcó nhứng KKTL trong hoạt động học tập ở trẻ lớp điểm sinh hoạt trong nhà trường của HS đầu lớp 1Đi học lớp 1 là một bước ngoặt quan trọng trong đời sống của trẻ. Có thể nói rằng,năm học lớp 1 là năm diễn ra những biến đổi quan trọng trong các điều kiện sống vàhoạt động của trẻ, và từ đó kéo theo sự thay đổi tâm lý của giai đoạn lứa tuổi mẫu giáo, hoạt động vui chơi là hoạt động chủ đạo, thì vào lớp1, việc học tập và tích lũy tri thức đã trở thành hoạt động chủ đạo của trẻ. Chính trongquá trình chuyển hoạt động chủ đạo từ vui chơi sang học tập khiến trẻ gặp phải một sốKKTL nhất định. Bởi lẽ, bước vào lớp 1, học tập trở thành bổn phận hàng đầu và quantrọng nhất của trẻ. Đến trường, HS bước vào các quan hệ mới và phức tạp hơn đối vớicác em. Đó là mối quan hệ với thầy cô và bạn bè cùng tuổi. Trong quan hệ với giáoviên GV của trẻ lớp 1 khác với quan hệ với GV ở thời mẫu giáo. Nếu như ở giaiđoạn mẫu giáo, trẻ dược cô cưng chiều hơn, dỗ dành nhiều hơn thì ở giai đoạn này,việc nhà trường và GV đề ra một loạt yêu cầu mới nội quy, nề nếp sinh hoạt học tậpkhá nghiêm túc bắt buộc trẻ phải tuân thủ để cho việc học tập tiến hành một cách bìnhthường, và điều này ít nhiều làm xáo trộn tâm lý của trẻ. Ngoài ra, đây còn là giai đoạnchuyển tiếp của trẻ khi kết hợp những nét tâm lý đã hình thành ở tuổi mẫu giáo vớinhững phẩm chất của một HS đang được hình thành. Quá trình chuyển đổi này đòi hỏihọc sinh lớp 1 phải có những cấu tạo tâm lý mới để giúp trẻ thích nghi với quá trìnhhọc tập ở nhà vậy, trong giai đoạn đầu lớp 1, trẻ phải tuân thủ những yêu cầu của nhà trường,hình thành những hành vi, hứng thú học tập. Tuy nhiên, trẻ không có ngay những điềuđó. Để hình thành được những hứng thú học tập trẻ phải trải qua những khó khăn nhấtđịnh ở mức độ khác nhau tùy thuộc vào mỗi MỘT SỐ BIỂU HIỆN VÀ NHÂN TỐ DẪN ĐẾN KHÓ KHĂN TÂM LÝ ĐẦULỚP Một số biểu hiện dẫn đến khó khăn tâm lý của học sinh đầu lớp KKTL trong hành vi thực hiện nội quy học tậpNội quy học tập là những quy định do nhà trường đề ra áp dụng trong nhà trường,đòi hỏi mọi HS phải tuân thủ và nghiêm chỉnh thực người cho rằng hành vi là tất cả các phản ứng của con người vô thức, ý thức,máy móc. Trong khi đó lại có người cho rằng, hành vi là những phản ứng có ý thức,được điều khiển bởi ý thức. Một số khác lại cho rằng hành vi là cách ứng xử của mộtngười trong một hoàn cảnh cụ thể được biểu hiện ra bên ngoài bằng lời nói, cử chỉnhất vậy, hành vi thực hiện nội quy học tập thể hiện cách ứng xử của HS đối vớinhững quy định do nhà trường đề GVHD Võ Đại Nam Anh* SVTH Ngô Thị Ngọc BíchNguyễn Thị Ngọc Ánh B Tìm hiểu khó khăn tâm lý của học sinh đầu lớp 1 trường TH Ngô QuyềnTP Kon Tum từ đó đề xuất phương pháp dạy học phù hợpKKTL trong hành vi thực hiện nội quy học tập được biểu hiện qua 9 mặt sau1. Không tập trung quay ngang, quay ngửa, nhìn ra ngoài...2. Ngủ gật trong giờ học3. Nói chuyện riêng4. Làm việc riêng trong giờ học5. Chui xuống gầm bàn, nằm ra ghế6. Đi học muộn7. Quên xếp hàng vào lớp8. Vẽ bậy, vứt rác ra lớp, trường9. Quên mặc đồng KKTL trong hành vi thực hiện nề nếp học tậpĐi đôi với việc thực hiện nội quy trong học tập, công tác xây dựng nề nếp cho HS làmột trong những nhiệm vụ quan trọng của người GV. Trên thực tế, nếu không có nềnếp thì giáo dục và dạy học trên lớp sẽ không đạt hiệu quả nếp học tập là những quy đinh thói quen chung để duy trì sự ổn định, trật tựtrong học tập và làm cho quá trình học tập của học sinh thu được kết quả vậy, hành vi thực hiện nề nếp sinh hoạt và học tập thể hiện cách ứng xử của HSđối với những quy định và thói quen chung trong sinh hoạt và học tập tại cứ vào thực hiện nề nếp sinh hoạt và học tập trong nhà trường tiểu học, KKTLtrong hành vi thực hiện nề nếp sinh hoạt và học tập được nghiên cứu và thể hiện vào 8biểu hiện sau1. Quên làm bài tập về nhà2. Quên học bài trước khi đến lớp3. Quên chép bài trong giờ học4. Quên mang sách vở, đồ dùng học tập5. Mang nhầm sách vở, đồ dừng học tập6. Nhìn bài của bạn7. Nhắc bài cho bạn khi không được phép của cô giáo8. Không giơ tay xin phép cô khi phát biểu ý KKTL trong hành động đọc, viết, làm toánĐối với HS đầu lớp 1, nội dung học tập dành cho HS lớp 1 không nhiều nhưngkhó thành công. Nội dung học tập dành cho lớp 1 chỉ cần đủ để tiếp cận với việc họcnhư học nghe, học nói, học đọc, học viết; học làm tính cộng, làm tính trừ với những sốnhỏ trong phạm vi 10, 20; học về một số phép ứng xử trong mối quan hệ của trẻ nhỏ,13* GVHD Võ Đại Nam Anh* SVTH Ngô Thị Ngọc BíchNguyễn Thị Ngọc Ánh B
Tài liệu "nghiên cứu về khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên CĐSP" có mã là 128355, file định dạng docx, có 106 trang, dung lượng file 249 kb. Tài liệu thuộc chuyên mục Luận văn đồ án > Sư phạm > Tâm lý giáo dục. Tài liệu thuộc loại BạcNội dung nghiên cứu về khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên CĐSPTrước khi tải bạn có thể xem qua phần preview bên dưới. Hệ thống tự động lấy ngẫu nhiên 20% các trang trong tài liệu nghiên cứu về khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên CĐSP để tạo dạng ảnh để hiện thị ra. Ảnh hiển thị dưới dạng slide nên bạn thực hiện chuyển slide để xem hết các lưu ý là do hiển thị ngẫu nhiên nên có thể thấy ngắt quãng một số trang, nhưng trong nội dung file tải về sẽ đầy đủ 106 trang. Chúng tôi khuyễn khích bạn nên xem kỹ phần preview này để chắc chắn đây là tài liệu bạn cần preview nghiên cứu về khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên CĐSPNếu bạn đang xem trên máy tính thì bạn có thể click vào phần ảnh nhỏ phía bên dưới hoặc cũng có thể click vào mũi bên sang trái, sang phải để chuyển nội dung sử dụng điện thoại thì bạn chỉ việc dùng ngón tay gạt sang trái, sang phải để chuyển nội dung slide. Click vào nút bên dưới để xem qua nội dung tài liệu nghiên cứu về khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên CĐSP sử dụng font chữ gì?File sử dụng loại font chữ cơ bản và thông dụng nhất Unicode hoặc là TCVN3. Nếu là font Unicode thì thường máy tính của bạn đã có đủ bộ font này nên bạn sẽ xem được bình thường. Kiểu chữ hay sử dụng của loại font này là Times New Roman. Nếu tài liệu nghiên cứu về khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên CĐSP sử dụng font chữ TCVN3, khi bạn mở lên mà thấy lỗi chữ thì chứng tỏ máy bạn thiếu font chữ này. Bạn thực hiện tải font chữ về máy để đọc được nội thống cung cấp cho bạn bộ cài cập nhật gần như tất cả các font chữ cần thiết, bạn thực hiện tải về và cài đặt theo hướng dẫn rất đơn giản. Link tải bộ cài này ngay phía bên phải nếu bạn sử dụng máy tính hoặc phía dưới nội dung này nếu bạn sử dụng điện thoại. Bạn có thể chuyển font chữ từ Unicode sang TCVN3 hoặc ngược lại bằng cách copy toàn bộ nội dung trong file nghiên cứu về khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên CĐSP vào bộ nhớ đệm và sử dụng chức năng chuyển mã của phần mềm gõ tiếng việt Unikey. Từ khóa và cách tìm các tài liệu liên quan đến nghiên cứu về khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên CĐSPTrên Kho Tri Thức Số, với mỗi từ khóa, chủ đề bạn có thể tìm được rất nhiều tài liệu. Bạn có thể tham khảo hướng dẫn sau đây để tìm được tài liệu phù hợp nhất với bạn. Hệ thống đưa ra gợi ý những từ khóa cho kết quả nhiều nhất là nghiên cứu về khó, hoặc là nghiên cứu về khó tìm được nội dung có tiêu đề chính xác nhất bạn có thể sử dụng nghiên cứu về khó khăn tâm, hoặc là nghiên cứu về khó khăn tâm nhiên nếu bạn gõ đầy đủ tiêu đề tài liệu nghiên cứu về khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên CĐSP thì sẽ cho kết quả chính xác nhất nhưng sẽ không ra được nhiều tài liệu gợi có thể gõ có dấu hoặc không dấu như nghien cuu ve kho, nghien cuu ve kho khan, nghien cuu ve kho khan tam, nghien cuu ve kho khan tam ly, đều cho ra kết quả chính xác. hoạt động nghiên cứu về khó khăn tâm trong cứu nghiên cứu viên CĐSP của sinh lý hoạt nghiên cứu về khó khăn tâm khăn tập động nghiên cứu về viên về khó học về lý trong nghiên học tập CĐSP nghiên cứu về khó nghiên cứu về khó khăn tâm lý khó của khăn tâm nghiên cứu sinh Các chức năng trên hệ thống được hướng dẫn đầy đủ và chi tiết nhất qua các video. Bạn click vào nút bên dưới để xem. Có thể tài liệu nghiên cứu về khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên CĐSP sử dụng nhiều loại font chữ mà máy tính bạn chưa có. Bạn click vào nút bên dưới để tải chương trình cài đặt bộ font chữ đầy đủ nhất cho bạn. Nếu phần nội dung, hình ảnh ,... trong tài liệu nghiên cứu về khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên CĐSP có liên quan đến vi phạm bản quyền, bạn vui lòng click bên dưới báo cho chúng tôi biết. Gợi ý liên quan "nghiên cứu về khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên CĐSP" Click xem thêm tài liệu gần giống Chuyên mục chứa tài liệu "nghiên cứu về khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên CĐSP" Tài liệu vừa xem nghiên cứu về khó nghiên cứu về khó khăn tâm lý nghiên cứu về khó khăn nghiên cứu về nghiên cứu về khó khăn tâm nghiên cứu
khó khăn tâm lý